vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Hữu T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Hà Hữu T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 28/4/2023 đến ngày 01/5/2023. *Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Hữu T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Hữu T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày: 07/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẮC KẠN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Huyền

Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Tuyên và ông Lê Hoàng Dưỡng

-Thư ký phiên tòa:Bà Đàm Thị Bưởi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Bàn

Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Hà Hữu T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 13/10/1989 tại B – Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Hữu T1 (đã chết) và bà Liêu Thị D; có vợ là Trương Thị Kiều A; chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2015 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” phạt tiền 750.000đ. Đã chấp hành xong quyết định xử phạt.Bị bắt tạm giữ từ ngày 28/4/2023 đến ngày 01/5/2023 được tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 20 phút ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại khu vực thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an xã Q bắt quả tang Hà Hữu T (sinh năm 1989 trú tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cụ thể, vào thời điểm trên tổ công tác phát hiện Hà Hữu T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Khi được yêu cầu kiểm tra T đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng trên bề mặt giấy có nhiều số và chữ bên trong chứa chất màu trắngdạng bột. Tổ công tác tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy, kết quả: Số chất trong gói nhỏ nêu trên trùng với đặc trưng của chất ma túy, loại Heroine. Sau khi thử phản ứng tiến hành gói lại như ban đầu và niêm phong trong phong bì ký hiệu “T1”. Ngoài ra tổ công tác còn phát hiện thu giữ tại túi quần trước bên trái Hà Hữu Tình đang mặc 03 xi lanh nhựa, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu NOVOCAIN 3% và 01 lọ dung dịch nhãn hiệu DIMEDROL đều chưa qua sử dụng.

Cùng ngày Công an huyện B đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 28/4/2023 Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Hữu T. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ tài liệu gì.

Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện B phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng chất nghi vấn là ma túy thu giữ được của Hà Hữu T, xác định: Toàn bộ số chất màu trắng dạng bột có trong phong bì ký hiệu “T1” có tổng khối lượng là 0,110g (không phảy một một không gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất màu trắng dạng bột nêu trên được gói trong mảnh giấy màu trắng và niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ” để gửi cơ quan giám định.

Kết luận giám định số 148/KTHS-MT ngày 08/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng trong phong bì ký hiệu “GĐ” gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng là 0,11g (không phảy một một gam).

Quá trình điều tra, Hà Hữu T khai nhận: Do bản thân sử dụng ma túy từ năm 2021 nên khoảng 17 giờngày 28/4/2023, Tình đón xe ô tô khách từ nhà tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đi thành phố B1 mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn T xuống xe đi vào hiệu thuốc mua 03 xi lanh nhựa và 02 lọ nước cất rồi đi ra cổng bệnh viện, tại đây T gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 40 tuổi có biểu hiện bán ma túy nên hỏi mua với người đàn ông này 01 gói nhỏ ma túy với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy T đón xe quay về, đến xã Q thì xuống xe đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác cơ quan Công an yêu cầu kiểm tra, Tình đã tự giác giao nộp gói nhỏ ma túy cho tổ công tác.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSBT ngày 06 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố Hà Hữu T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm ckhoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

*Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hà Hữu T theo điểm, khoản, điều luật và tội danh như đã viện dẫn ở trên và đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS. Xử phạt bị cáo từ 12 – 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 28/4/2023 đến ngày 01/5/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu T84 bên trong có 0,07g (không phảy không bảy gam)ma túy loại Heroine cùng phong bì ký hiệu GĐ, bao gói cũ do cơ quan giám định hoàn trả; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có một phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T1”, 01 mảnh giấy màu trắng trên bề mặt có nhiều số và chữ; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T2”bên trong có 03 xi lanh, 01 lọ dung dịch NOVOCAIN 3%, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu DIMEDROL đều chưa qua sử dụng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, không có khiếu nại về hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung, tại phiên tòa xác định: Do bản thân sử dụng ma túy nên ngày 28/4/2023, tại khu vực thôn K, xã Q, huyện B Hà Hữu T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,11 gam ma túy loại Heroine mục đích sử dụng cho bản thân.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS thấy việc truy tố, xét xử bị cáo Hà Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ pháp luật.

Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cần được xử lý nghiêm bằng hình phạt pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Không có tình tiết tăng nặng; được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hà Hữu T tại thành phố B do không biết tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh.

. Vật chứng:

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu T84 bên trong có 0,07g (không phảy không bảy gam) ma túy loại Heroine cùng phong bì ký hiệu GĐ,bao gói cũ cơ quan giám định hoàn trả; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có một phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T1”, 01 mảnh giấy màu trắng trên bề mặt có nhiều số và chữ; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T2”bên trong có 03 xi lanh nhựa, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu NOVOCAIN 3%, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu DIMEDROL đều chưa qua sử dụng. Tất cả đều không có giá trị sử dụng – tịch thu tiêu hủy.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do thu nhập không ổn định, xác minh tại địa phương không có tài sản riêng nên không áp dụng.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hà Hữu T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Hữu T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 28/4/2023 đến ngày 01/5/2023.

*Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

*Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm:

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T84bên trong có 0,07g (không phảy không bảy gam) ma túy loại Heroine cùng phong bì ký hiệu GĐ, bao gói cũ cơ quan giám định hoàn trả; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có mộtphong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T1”, 01 mảnh giấy màu trắng trên bề mặt có nhiều số và chữ; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T2” bên trong có 03 xi lanh nhựa, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu NOVOCAIN 3%, 01 lọ dung dịch nhãn hiệu DIMEDROL đều chưa qua sử dụng. Tất cả vật chứng số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an – Chi cục thi hành án dân sự.

* Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Hà Hữu T chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân dự. Thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ