vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 19; Điều 21; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Kim T ly hôn với ông Đỗ Như D. Về con chung: Bà Phùng Thị Kim T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của bà T và ông D là cháu Đỗ Phùng K sinh ngày 15/4/2008. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-D ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 19; Điều 21; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-3-2023
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

Ông Nguyễn Văn Hải

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 919/2022/HNST ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Kim T, sinh năm 1981; Thường trú: số…. phường T, thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Đỗ Như D, sinh năm: 1977; Thường trú: số…. phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 10 năm 2022 và quá trình tố tụng tại Tòa, Bà Phùng Thị Kim T trình bày:

Bà và ông Đỗ Như D tự nguyện tìm hiểu gần một năm sau đó tổ chức lễ cưới, chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường S (nay là phường T), thành phố Vũng Tàu ngày 24/4/2007.

Trong thời gian đầu, bà và ông D chung sống khá hạnh phúc. Tới khoảng 5 năm gần đây bà và ông D phát sinh nhiều mâu thuẫn vì giữa hai bên có nhiều điểm khác biệt về tính cách không thể hòa hợp, có những mâu thuẫn không thể hòa giải khiến cuộc sống chung không còn hạnh phúc, thiếu sự thấu hiểu, tôn trọng dành cho nhau. Bà đã suy nghĩ kỹ và nhận thấy rằng bà và ông D không thể tiếp tục chung sống cùng nhau để cùng tạo lập hạnh phúc gia đình nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Như D.

2. Về con chung: Bà và ông D có 1 con chung là Đỗ Phùng K sinh ngày 15/4/2008. Cháu K được bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc từ nhỏ tới nay, để ổn định việc sinh sống, học tập của con, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con bà và ông D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà và ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông Đỗ Như D không có mặt hoặc có văn bản để thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Tại phiên tòa:

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Hôn nhân của ông D và bà T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình tố tụng bà T xác nhận đã không còn tình nghĩa vợ chồng với ông D và không muốn tiếp tục hôn nhân với ông D. Ông D không có ý kiến với Tòa án thể hiện mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình với bà T do đó đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã nghiêm trọng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T có nguyện vọng được nuôi con chung là Đỗ Phùng K sinh ngày 15/4/2008. Cháu K cũng có nguyện vọng được ở cùng mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T về việc bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Đỗ Phùng K.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung; Nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phùng Thị Kim T yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Như D thường trú tại Vũng Tàu do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D, tuy nhiên ông D vắng mặt không có lý do; bà Phùng Thị Kim T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt. Căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông D và bà T.

. Về nội dung:

. Xét về yêu cầu ly hôn:

Ông Đỗ Như D và bà Phùng Thị Kim T chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường S, thành phố Vũng Tàu ngày 24 tháng 4 năm 2007, là hôn nhân hợp pháp.

Theo xác minh tại địa phương nơi ông D và bà T chung sống thì được cung cấp thông tin thời gian gần đây ông D không còn sống chung với bà T.

Trong quá trình tố tụng, bà T xác định đã không còn tình nghĩa vợ chồng với ông D, cả hai người không thể tiếp tục chung sống cùng nhau, vợ chồng đã không còn quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, đã ly thân từ năm 2018 tới nay. Ông D không tới Tòa làm việc để thể hiện mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình đối với bà T. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 19; Điều 21; Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu ly hôn của bà Phùng Thị Kim T với ông Đỗ Như D có căn cứ để chấp nhận.

. Về con chung: Ông D và bà T có 01 con chung là Đỗ Phùng K sinh ngày 15/4/2008. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu K, cháu K cũng có nguyện vọng được sống chung với bà T. Ông D không có ý kiến thể hiện việc muốn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà T về việc được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc Đỗ Phùng K sinh ngày 15/4/2008 theo quy định tại các Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Ông D được quyền thăm nuôi, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung; Nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.

.Về án phí: Bà Phùng Thị Kim T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự; Điều 19; Điều 21; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Kim T ly hôn với ông Đỗ Như D.

2. Về con chung: Bà Phùng Thị Kim T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của bà T và ông D là cháu Đỗ Phùng K sinh ngày 15/4/2008.

Ông D được quyền thăm nuôi, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Bà Phùng Thị Kim T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003316 ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân.

5. Về quyền kháng cáo: Ông D, bà T vắng mặt tại phiên tòa nên thời gian kháng cáo được tính 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ