- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Thị Kim P - Lâm Xuân H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Kim P;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Giang và bà Đoàn Phương Thảo
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố M.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên tòa: bà Tạ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023. Tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Phùng Thị Kim P, sinh năm 1990; nơi thường trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: anh Lâm Xuân H, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú: khu 7, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/3/2023 và bản tự khai ngày 07/4/2023 nguyên đơn chị Phùng Thị Kim P trình bày:
Chị Phùng Thị Kim P và anh Lâm Xuân H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2017, đến ngày 16/11/2018 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do anh H thay đổi tính tình, rượu chè, đánh đập vợ con, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng không thể kéo dài được nữa. Do vậy, chị P thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố M giải quyết cho chị P được ly hôn với anh Lâm Xuân H.
- Về con chung: chị Phùng Thị Kim và anh Lâm Xuân H có 01 (một) con chung là Lâm Kim T, sinh ngày 24/9/2018. Sau khi ly hôn chị P có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, khoản nợ chung: chị Phùng Thị Kim P và anh Lâm Xuân H không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Lâm Xuân H đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh H vẫn không có mặt để thể hiện ý kiến của mình về vụ án.
Theo kết quả xác minh tại thôn N, xã V, thành phố M được biết: sau khi kết hôn vợ chồng chị P, anh H sinh sống tại thôn N, xã V, thành phố M thì địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng chị P và anh H nhưng được biết thời gian vài tháng trở lại đây anh H ít khi có mặt ở nhà. Về con chung chị P và anh H có 01 con chung hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị P tại thôn N, xã V, thành phố M.
Tại phiên tòa hôm nay anh Lâm Xuân H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; chị Phùng Thị Kim P có đơn xin xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đơn yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Các đương sự không có thỏa thuận gì về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại phiên tòa nên không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị Kim P. Về con chung: giao cháu Lâm Kim T cho chị Phùng Thị Kim P nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ 18 tuổi, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, khoản nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: về quan hệ tranh chấp chị Phùng Thị Kim P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn, theo qui định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn có đăng ký thường trú tại khu 7, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M.
Về sự vắng mặt của đương sự, bị đơn anh Lâm Xuân H đã được Tòa án nhân dân thành phố M tống đạt văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo qui định của pháp luật nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Chị Phùng Thị Kim P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử, xử vắng mặt chị P và anh H theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn chị Phùng Thị Kim P và bị đơn anh Lâm Xuân H kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng chị P, anh H trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn xảy ra; nguyên nhân là do H thường xuyên uống rượu và có hành vi bạo lực chị P cả về thể xác và tinh thần từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc chị P xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do, như vậy thể hiện anh H không có nguyện vọng và biện pháp hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị Kim P là có căn cứ phù hợp qui định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: chị Phùng Thị Kim P và anh Lâm Xuân H có 01 (một) con chung là Lâm Kim T, sinh ngày 24/9/2018. Hiện nay cháu T đang sinh sống cùng chị P tại thôn N, xã V, thành phố M được nuôi dưỡng, chăm sóc phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, giao cháu Lâm Kim T cho chị P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hợp tình, hợp lý và phù hợp quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Phùng Thị Kim P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy đây là quyền định đoạt của chị P nên cần chấp nhận.
Anh Lâm Xuân H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, khoản nợ chung không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Phùng Thị Kim P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị Kim P;
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phùng Thị Kim P được ly hôn anh Lâm Xuân H.
2. Về con chung: giao con chung Lâm Kim T, sinh ngày 24/9/2018 cho chị Phùng Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Lâm Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: chị Phùng Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0007777, ngày 31 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M; chị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố M; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - UBND xã V, TP. M; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thùy Dương |