- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị O - Phạm Công C - ly hôn"
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn T©n Yªn TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/5/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị O với anh C” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tư Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Kiểm;
Bà Trần Thị Nhẫn.
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Lan Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị O, sinh năm 1997. (có mặt);
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn T, xã Ng, huyện T, tỉnh Bắc Giang;
Nơi cư trú: bản V, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
- Bị đơn: anh Phạm Công C, sinh năm 1992. (có mặt);
Nơi cư trú: thôn T, xã Ng, huyện T, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị O trình bày:
Chị và anh Phạm Công C kết hôn ngày 08/12/2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn, chị và anh C có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, chị về làm dâu tại gia đình anh C ngay, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 3/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không quan tâm đến vợ, con, không chịu làm ăn, thường xuyên chơi bời và có nợ nần nhiều, vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2022 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị xin ly hôn với anh C.
Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung là Phạm Công Nhật M, sinh ngày 05/8/2022, hiện chị đang nuôi con. Nay chị nhận nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Chị xác định có đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công s c đóng góp trong thời gian ở chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị O có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trên.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2023 và những lời khai tiếp theo, anh Phạm Công C trình bày:
Anh nhất trí với trình bày của chị O về ngày tháng kết hôn, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống, con chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Tháng 9/2022, chị O đã đưa con về nhà mẹ đẻ sinh sống, anh đã nhiều lần khuyên bảo, động viên chị O về đoàn tụ nhưng chị O không về, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con, anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: vợ chồng anh có 01 con chung là Phạm Công Nhật M, sinh ngày 05/8/2022, hiện chị O đang nuôi con. Nếu phải ly hôn, anh đồng ý để chị O nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con thì anh và chị O tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công s c đóng góp trong thời gian ở chung: vợ chồng tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh C có mặt và trình bày: Anh nhận nuôi con và không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.
* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán: thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập ch ng c , tổ ch c phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai ch ng c và hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, nhưng chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên c u còn chậm, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tung dân sự; Hội đồng xét xử (HĐXX) đảm bảo về thành phần, nguyên tắc xét xử; Thư ký chấp hành đúng quyền hạn, trách nhiệm theo quy định; Nguyên đơn, bị đơn có ý th c chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích Kiểm sát viên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị O, xử:
Cho chị Trần Thị O được ly hôn với anh Phạm Công C.
Về con chung: giao cho chị O nuôi con Phạm Công Nhật M, sinh ngày 05/8/2022. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c u tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến đề nghị của đương sự, Kiểm sát viên. Sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thấy:
. Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Chị O xin ly hôn với anh C và tranh chấp về nuôi con, anh C có nơi cư trú tại thôn T, xã Ng, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện T thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị O kết hôn cùng anh Phạm Công C ngày 08/12/2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng, huyện T, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, khi xảy ra mâu thuẫn thì đã được gia đình hòa giải, khuyên bảo nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2022 cho đến nay. Nay chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị xin ly hôn với anh C. Anh C cũng xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân, nay anh không nhất trí ly hôn và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con chung. Hội đồng xét xử thấy chị O và anh C đều xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân. Qua xác minh tại địa phương và gia đình anh C đều thể hiện vợ chồng chị O, anh C có xảy ra mâu thuẫn và có thời gian ly thân. Nay anh C không nhất trí ly hôn với chị O, nhưng kể từ thời điểm vợ chồng ly thân cho đến nay, anh C không có biện pháp gì để vợ chồng đoàn tụ. Như vậy, có thể thấy vợ chồng chị O, anh C mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị O xin ly hôn là có căn c , Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để cho chị O được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị O, anh C có 01 con chung là Phạm Công Nhật M, sinh ngày 05/8/2022, hiện chị O đang nuôi con. Nay chị nhận nuôi con và trong quá trình giải quyết vụ án anh C cũng đồng ý để chị O nuôi con, nhưng tại phiên tòa anh C nhận nuôi con và không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy con chung của chị O, anh C chưa đủ 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, tránh làm xáo trộn cuộc sống của con khi giải quyết ly hôn, cần giao cho chị O nuôi dưỡng con là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, chị O không yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công s c đóng góp trong thời gian ở chung: Chị O, anh C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị O phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Trần Thị O được ly hôn với anh Phạm Công C.
2. Về con chung: giao cho chị Trần Thị O nuôi con Phạm Công Nhật M, sinh ngày 05/8/2022. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ng án phí 300.000 đồng mà chị O đã nộp theo biên lai thu số 0004782 ngày 17/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. N¬i nhËn:
| - VKSND huyện T; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS huyệnT; - UBND xã Ng; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tư Duy |