vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc H được ly hôn với anh Phan Văn K. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Trương Thị Ngọc H - Phan Van K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2023
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Cang.

2. Bà Sơn Thị Vành Đa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 215/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ngọc H; sinh năm: 19xx; địa chỉ: ấp T, xã T1, thị xã N1, tỉnh Sóc Trăng (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phan Văn K, sinh năm: 1990; địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M1, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 05 năm 2022, nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc H trình bày:

Vào năm 2013, chị H và anh K tự nguyện kết hôn, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M1, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 27-8-2014. Sau khi kết hôn, chị H và anh K sống chung hạnh phúc đến ngày 20-02-2021 thì giữa chị H và anh K phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên chị H và anh K không còn sống chung.

Trong thời gian hôn nhân, chị H và anh K có 02 (hai) con chung tên Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 và Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018, hiện tại cháu K1 đang sống cùng anh K, cháu N đang sống với chị H. Về tài sản chung và nợ chung không có.

Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh K.

- Về con chung: Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 và Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản ghi lời khai đương sự ngày 07-3-2023, bị đơn anh Phan Văn K trình bày: Anh K thống nhất với nội dung trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H thì anh thống nhất ly hôn với chị H, về con chung thì đối với Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 hiện tại đang sống cùng anh K nên anh K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; anh K không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 hiện tại đang sống cùng chị H thì anh K đồng ý giao cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi, anh K không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung thống nhất không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 10-3-2023, nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc H trình bày: Về con chung, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi, chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 hiện tại đang sống cùng anh K yêu cầu giao cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên các đương sự không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng riêng bị đơn anh K chưa chấp hành nghiêm.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên xử chị H được ly hôn với anh K. Về con chung, giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi, anh K không phải cấp dưỡng nuôi cháu N; giao cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi, chị H không phải cấp dưỡng nuôi cháu K1. Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí nguyên đơn chị H phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị H khởi kiện anh K để yêu cầu ly hôn và được quyền trực tiếp nuôi con chung, nhưng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh K tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, chị H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh K theo quy định pháp luật.

Xét yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: trong quá trình giải quyết vụ án, chị H trình bày sau khi kết hôn, chị H và anh K sống chung hạnh phúc đến ngày 20-02-2021 thì giữa chị H và anh K phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên chị H và anh K không còn sống chung. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập chị H và anh K để hòa giải, động viên hàn gắn tình cảm, đoàn tụ với nhau, nhưng anh K không đến tham dự phiên hòa giải, chị H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, đồng thời, tại Biên bản ghi lời khai ngày 07-3-2023 thì anh K đã thống nhất ly hôn với chị H. Như vậy, hôn nhân giữa chị H và anh K đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, chị H và anh K có 02 (hai) người con chung tên Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 và Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018, hiện tại cháu K1 đang sống cùng anh K, cháu N đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 và Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Theo khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản ghi lời khai ngày 07-3-2023 và Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 10-3-2023, chị H và anh K đã tự nguyện trình bày ý kiến thống nhất giao chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; giao anh K trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Mặc khác, qua tham khảo ý kiến của cháu Phan Tuấn K1 cũng có nguyện vọng sống cùng với anh K. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của các con chung thì Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến tự nguyện chị H và anh K là giao chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; giao anh K trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi. Chị H và anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng, theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, chị H và anh K tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con vì có đủ các điều kiện kinh tế chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận quyết định chị H và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, chị H và anh K thống nhất trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm, chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Ngọc H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc H được ly hôn với anh Phan Văn K.

2. Về con chung:

- Giao cho chị Trương Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Thị Chúc N, sinh ngày 31-3-2018 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; anh Phan Văn K không phải cấp dưỡng nuôi cháu Phan Thị Chúc N.

- Giao cho anh Phan Văn K trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Tuấn K1, sinh ngày 03-12-2014 cho đến khi đủ 18 (Mười tám) tuổi; Chị Trương Thị Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi cháu Phan Tuấn K1.

Chị Trương Thị Ngọc H và anh Phan Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005309 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Chị Trương Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ