vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Thạch Thị Kim C được ly hôn với anh Thạch Săp P.

Về con chung: Chị Thạch Thị Kim C được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Thạch Thị Phương L, sinh ngày 11/7/2015 và Thạch Minh T, sinh ngày 14/10/2017 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, gi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Thạch Thị Kim C và anh Thạch Săp P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Thạch Thị Kim C được ly hôn với anh Thạch Săp P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06-7-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Yên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đạt Thông

2. Ông Dương Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Quãng Thanh Trung, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 19/6/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Kim C, sinh năm 1994, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Thạch Săp P, sinh năm 1991, vắng mặt không có lý do.

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/01/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thị Kim C trình bày:

Năm 2013, chị và chồng tên Thạch Săp P do quen biết đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh năm 2013. Sau khi cưới nhau vợ chồng sinh sống tại ấp B, xã Đ, huyện D. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Thạch Thị Phương L, sinh ngày 11/7/2015 và Thạch Minh T, sinh ngày 14/10/2017. Thời gian đầu cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, anh P thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm, chăm lo cho gia đình. Chị có nhờ cha mẹ 02 bên khuyên can nhưng anh P vẫn tính nào tật nấy, không chịu thay đổi. Vì vậy vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không có qua lại, hỏi thăm để cùng nhau đoàn tụ. Nay tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Thạch Săp P.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Thạch Thị Phương L, sinh ngày 11/7/2015 và Thạch Minh T, sinh ngày 14/10/2017 hiện đang sống chung với chị; chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con sau khi ly hôn.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Thạch Săp P luôn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; anh P cũng không có lời khai.

Theo biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 14/3/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, em Thạch Thị Phương L trình bày:

Em là con của cha tên Thạch Săp P và mẹ tên Thạch Thị Kim C. Năm nay em 07 tuổi, em đang học lớp 02, em đang sống với mẹ. Cha mẹ ly hôn em không có ý kiến, nếu cha mẹ ly hôn em có nguyện vọng sống chung với mẹ.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Thạch Thị Kim C có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn chị Chi giữ nguyên yêu cầu giải quyết về hôn nhân, nuôi con, tài sản và nợ chung.

- Bị đơn anh Thạch Săp P dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về thủ tục tố tụng: Thủ tục thụ lý hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đều tống đạt cho các đương sự đầy đủ đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thạch Thị Kim C được ly hôn với anh Thạch Săp P; về con chung tên Thạch Thị Phương L, sinh ngày 11/7/2015 và Thạch Minh T, sinh ngày 14/10/2017 giao cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc chị Thạch Thị Kim C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các tình tiết, sự kiện đương sự đã thống nhất: Không có.

Các tình tiết, sự kiện đương sự không thống nhất:

- Nguyên đơn chị Thạch Thị Kim C yêu cầu ly hôn với anh Thạch Săp P; yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con tên Thạch Thị Phương L, sinh ngày 11/7/2015 và Thạch Minh T, sinh ngày 14/10/2017; không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng, tài sản và nợ chung.

- Bị đơn anh Thạch Săp P không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Chị C khởi kiện anh P yêu cầu ly hôn và giải quyết về con, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng, tài sản và nợ chung. Anh P không có yêu cầu phản tố nào khác. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn anh P có địa chỉ cư trú tại ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Thạch Thị Kim C có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Thạch Săp P vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị C, anh P theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thạch Thị Kim C:

Về hôn nhân: Chị C và anh P xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh năm 2013. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, chị C và anh P đủ điều kiện kết hôn. Căn cứ vào các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị C và anh P là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, chị C khai nhận: Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, anh P thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm, chăm lo cho gia đình. Chị có nhờ cha mẹ 02 bên khuyên can nhưng anh P vẫn tính nào tật nấy, không chịu thay đổi. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không có qua lại, hỏi thăm để cùng nhau đoàn tụ.

Xét thấy gia đình là tế bào xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững. Quá trình chung sống giữa chị C và anh P chưa thống nhất với nhau về quan điểm sống, về ứng xử giao tiếp; đáng lẽ khi mâu thuẫn xảy ra anh chị phải ngồi lại tìm phương án để giải quyết mọi vấn đề bất đồng phát sinh nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình, nhưng khi xảy ra mâu thuẫn anh chị bỏ mặt không quan tâm đến hạnh phúc mà anh chị đã xây dựng nhiều năm qua, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn lại với nhau, tuy nhiên anh P đều vắng mặt, chị C kiên quyết xin ly hôn.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị C và anh P ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu xin ly hôn của chị C là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị C và anh P chung sống với nhau có 02 con tên Thạch Thị Phương L, sinh ngày 11/7/2015 và Thạch Minh T, sinh ngày 14/10/2017. Xét từ khi vợ chồng ly thân đến nay, chị C là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt của các con, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, cháu L cũng có nguyện vọng được sống chung với chị C. Tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “…Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con…”. Do đó Hội đồng xét xử giao quyền trực tiếp nuôi 02 con cho chị C là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không có tranh chấp nên không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị C phải nộp án phí hôn nhân gia đình không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Thạch Thị Kim C được ly hôn với anh Thạch Săp P.

2. Về con chung: Chị Thạch Thị Kim C được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Thạch Thị Phương L, sinh ngày 11/7/2015 và Thạch Minh T, sinh ngày 14/10/2017 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng, chị C và anh P được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.

4. Về án phí: Buộc chị Thạch Thị Kim C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị C đã nộp theo biên lai số 0015852 ngày 06 tháng 02 năm 2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải thu.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ