vanban.org

Bản án 30/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Buộc ông Lê Văn G và bà Lê Thị BT liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 293.000.000 đồng (hai trăm chín mươi ba triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 30/2023/DS-ST
Ngày: 20/3/2023.
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNT, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chậm.

2. Bà Phạm Thị Thế Băng.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Chung-Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H sinh năm 1962 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Phú Thạnh, xã PM, huyện T, tỉnh Tiền Giang

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Bé BT, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Ông Lê Văn G, sinh năm 1952 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Hưng Phú, xã HT, huyện T, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị H trình bày:

Do chỗ bà con nên từ năm 2019 đến năm 2022, bà có cho bà BT và ông G vay nhiều lần tiền. Lãi suất vay là 3%/tháng, bà BT và ông G đóng lãi cho bà đến tháng 7/2022 thì ngưng. Thời hạn thỏa thuận vay là khi nào bà cần lấy lại tiền thì thông báo trước cho bà BT, ông G 03 tháng sẽ trả lại cho bà. Đến ngày 07/9/2022 tổng kết nợ thì bà BT và ông G nợ bà 293.000.000đồng và các bên thỏa thuận hàng tháng bà BT và ông G phải trả cho bà 5.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền 293.000.000 đồng nhưng từ khi thỏa thuận đến nay thì bà BT và ông G không trả cho bà số tiền nào mặc dù bà đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng bà BT và ông G không trả mà cố tình tránh mặt.

Tại thời điểm bà cho bà BT và ông G mượn tiền là phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà BT và ông G, số tiền nợ nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy đây là nợ chung của vợ cH bà BT và ông G, cả hai phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà.

Nay bà yêu cầu bà BT và ông G liên đới trả cho bà số tiền nợ là 293.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Yêu cầu trả một lần và trả ngay khi bản án có hiệu lực.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị BT trình bày:

Vào tháng 9/2020, bà có vay của bà H số tiền 293.000.000đồng, thỏa thuận lãi suất 5%/tháng, trả lãi hàng tháng. Đến tháng 9/2022 bà không có khả năng trả gốc và lãi cho bà H. Nay bà H khởi kiện, bà đồng ý trả số nợ 293.000.000đồng, bà đồng ý trả một mình không liên đới cùng ông G. Bà xin trả dẫn mỗi tháng 5.000.000đồng đến khi hết nợ.

* Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Văn G trình bày:

Đây là nợ riêng của bà BT, việc vay tiền của vợ ông bà BT thì ông không biết và ông không có liên quan. Nay ông không đồng ý liên đới cùng bà BT để trả nợ cho bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn khai nhận có cho bị đơn vay nhiều lần bị đơn cũng thừa nhận việc vay tiền của nguyên đơn; nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ xã HT, huyện T, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc vằng mặt bị đơn: Bà Lê Thị BT, ông Lê Văn G được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng có đơn xin vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt .

Về yêu cầu bà BT, ông G liên đới trả nợ: Tại thời điểm diễn ra giao dịch vay tiền giữa bà BT và bà H thì bà BT và ông G là vợ chồng hợp pháp. Hội đồng xét xử xác định nghĩa vụ trả nợ của bà BT và ông G phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là nghĩa vụ chung của ông bà BT và ông G, việc vay tiền đối với nhiều người và diễn ra trong thời gian dài. Căn cứ vào các điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng phải có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó yêu cầu của bà H yêu cầu Tòa án buộc ông G và bà BT cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về số tiền nợ là 293.000.000 đồng: Tại biên nhận ngày 07/9/2022 (có thể hiện số tiền vay là 293.000.000 đồng và bà BT đã thừa nhận, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà BT có hứa trả mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng không trả mặc dù bà H đã đòi nhiều lần, bà BT và ông G đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó bà H khởi kiện yêu cầu bà BT và ông G trả nợ gốc với số tiền 293.000.000 đồng là có căn cứ. Bà BT xin trả dần 5.000.000 đồng/tháng là nhằm kéo dài thời gian trở nợ, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H, ông G không đồng ý liên đới trả nợ cho bà H là không phù hợp và không được bà H đồng ý nên Hội đồng xét xử cần buộc bà BT và ông G liên đới trả nợ cho bà H khi án có hiệu lực pháp luật.

Về lãi suất: Bà H không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà BT, ông G là người cao tuổi thuộc đối tượng miễn nộp án phí và có đơn đề nghị miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà BT, ông G.

Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ vào các điều 357, 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Căn cứ vào Điều 27 và Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Buộc ông Lê Văn G và bà Lê Thị BT liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 293.000.000 đồng (hai trăm chín mươi ba triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

- Miễn toàn bộ án phí cho bà Lê Thị BT và ông Lê Văn G.

- Do bà Nguyễn Thị H là đối tượng được miễn nộp tạm ứng án phí nên không phải hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho bà H.

3. Quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày; đối với bà H được tính từ ngày tuyên án; đối với bà BT và ông G được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ