- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án dân sự Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt- Trần Văn Bình + Tăng Thị Hào"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/DS-ST Ngày: 08-09-2023 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Tấn Phước
2. Ông Lê Việt Phương
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 09 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 05 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXX-ST ngày 28 tháng 07 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 08 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B
Địa chỉ: Tầng C Tòa nhà T, Số X đường Trần Q, Phường K, Quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S, chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn D, chức vụ: Giám đốc chi nhánh L, theo nội dung ủy quyền tại Quyết định số 6650/2017/QĐ-TQĐ ngày 20/06/2017 của Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần B.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lâm Thanh T, chức danh: Chuyên viên, Ngân hàng thương mại cổ phần B - Chi nhánh L.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1975 và bà Tăng Thị H, sinh năm 1975
Địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
(Ông T có đơn xin vắng mặt, ông B và bà H vắng mặt
tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 03 năm 2023, tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần B trình bày:
Ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H có vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần B, cụ thể như sau:
Ngày 11/12/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần B- chi nhánh L với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H đã ký kết hợp đồng tín dụng số HDTD23C201907. Theo đó, Ngân hàng cho ông B và bà H vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Thời hạn vay là 36 tháng.
- Hình thức trả nợ gốc và lãi được trả định kỳ hàng tháng.
Ngày 11/12/2019, Ngân hàng thương mại cổ phần B – chi nhánh L đã giải ngân và ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H đã nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), mục đích vay: Tiêu dùng.
Lãi suất cho vay trong hạn là 10.8%/năm.
Lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Để bảo đảm nợ vay, ông B và bà H không có thế chấp tài sản.
Trong quá trình quan hệ tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần B-chi nhánh L, ông B và bà H đã vi phạm hợp đồng phát sinh nợ quá hạn.Ngân hàng đã nhiều lần thường xuyên liên hệ, nhắc nhở ông B và bà H để trả nợ, ông B và bà H cam kết nhiều lần nhưng không thực hiện đúng cam kết.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/03/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần B yêu cầu buộc ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H trả số tiền nợ tính đến ngày 07/03/2023 là 5.572.945 đồng (Năm triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng),trong đó: Nợ gốc là 3.961.658 đồng (Ba triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng), lãi trong hạn là 1.361.096 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm chín mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 250.191 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn một trăm chín mươi mốt đồng). Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án do ông B và bà H đã trả cho Ngân hàng được số tiền 3.563.497 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng), nên nay Ngân hàng xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông B và bà H trả số tiền 3.563.497 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng) cho Ngân hàng. Ngân hàng thương mại cổ phần B chỉ yêu cầu buộc ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H trả số tiền nợ tính đến ngày 08/09/2023 là 2.009.448 đồng (Hai triệu không trăm lẻ chín nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 111.645 đồng (Một trăm mười một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 1.361.072 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), lãi quá hạn là 536.731 đồng (Năm trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng).
Và Ngân hàng yêu cầu ông B và bà H trả số tiền lãi phát sinh từ ngày 09/09/2023 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán hết nợ. Ngoài ra, Ngân hàng không còn có yêu cầu gì khác.
Đối với Trần Văn B và bà Tăng Thị H không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, ông B và bà H cũng không có cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần B theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho ông B và bà H, nhưng ông B và bà H không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung đề xuất: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H. Buộc ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền tính đến ngày 08/09/2023 là 2.009.448 đồng (Hai triệu không trăm lẻ chín nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 111.645 đồng (Một trăm mười một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 1.361.072 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), lãi quá hạn là 536.731 đồng (Năm trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng).
Đồng thời, buộc ông B và bà H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền lãi phát sinh từ ngày 09/09/2023 đến ngày ông B và bà H trả hết nợ cho Ngân hàng.
Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H về việc yêu cầu ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H trả số tiền 3.563.497 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
- Về án phí: Ông Trần Văn B và bà H phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lâm Thanh T có đơn xin vắng mặt, ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H vắng mặt tại phiên tòa. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng dân sự cho ông B và bà H theo quy định để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B, nhưng ông B và bà H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T, ông B và bà H.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H:
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án thì Ngân hàng thương mại cổ phần B có cung cấp Hợp đồng tín dụng số HDTD23C201907 ngày 11 tháng 12 năm 2019 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần B với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H, thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với ông B và bà H, đủ căn cứ xác định ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H có vay vốn với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần B là hoàn toàn có xảy ra trên thực tế. Tính đến thời điểm khởi kiện ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần B khởi kiện là có căn cứ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng dân sự cho ông B và bà H theo quy định, nhưng ông B và bà H vẫn vắng mặt xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, ông B và bà H cũng không nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ và văn bản trình bày ý kiến phản đối của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng. Do vậy, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Do đó, buộc ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần B vốn, lãi tính đến ngày 08/09/2023 là 2.009.448 đồng (Hai triệu không trăm lẻ chín nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 111.645 đồng (Một trăm mười một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 1.361.072 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), lãi quá hạn là 536.731 đồng (Năm trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng).
Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông B và bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông B và bà H vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Đối với việc Ngân hàng thương mại cổ phần B rút một phần yêu cầu buộc ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H trả số tiền 3.563.497 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng) do trong quá trình giải quyết vụ án ông B và bà H đã trả cho Ngân hàng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện trên của Ngân hàng là tự nguyện, nên căn cứ theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông B và bà H về việc yêu cầu ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H trả số tiền 3.563.497 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
Về án phí: Ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H phải chịu nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần B đã dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0011549 ngày 18 tháng 05 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số 698 ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
2. Buộc ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền nợ tính đến ngày 08/9/2023 là 2.009.448 đồng (Hai triệu không trăm lẻ chín nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 111.645 đồng (Một trăm mười một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), lãi trong hạn là 1.361.072 đồng (Một triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn không trăm bảy mươi hai đồng), lãi quá hạn là 536.731 đồng (Năm trăm ba mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông B và bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông B và bà H vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H về việc yêu cầu ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H trả số tiền 3.563.497 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Trần Văn B và bà Tăng Thị H phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần B đã dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0011549 ngày 18 tháng 05 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình; - Chi cục THADS huyện Hòa Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phan Thị Mỹ Xuyên |