vanban.org

Bản án 30/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 26/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hà Trọng H, Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Hà Trọng H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); các bị cáo Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1, mỗi bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Trọng H cùng đồng phạm phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà Trọng H, Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HSST
Ngày 26-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hồng Giang;

Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Đức và bà Phạm Thị Thu Hiền và ông Vi Tuấn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nông Anh Vượng, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2022/TLST-HS ngày 09/5/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 27/2022/QĐXXST-HS ngày 13/5/2022, đối với các bị cáo:

1. HÀ TRỌNG H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/5/1992, tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường LS, thành phố CS, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Đ và bà Hà Thị X; có vợ là Trần Thị Hồng T, chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2021 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

2. PHẠM THANH T1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09/10/1994, tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố TB, phường LS, thành phố CS, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tụ do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và bà Ngô Thị X1; có vợ là Nguyễn Thúy Q và 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

3. TẠ TIẾN Đ1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 21/9/2003, tại Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố K, phường LS, thành phố CS, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Đình V và bà Dương Thị H1; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Hà Trọng H, Luật sư Thiệu Thị Thanh H2, Văn phòng Luật sư HT, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên cử, (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh T1, Luật sư Triệu Quốc B, Văn phòng Luật sư QT, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên cử, (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Tạ Tiến Đ1, Luật sư Phạm Quốc C, Văn phòng Luật sư AT, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên cử, (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 2000, trú tại xóm 7, xã HT, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

* Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1959, trú tại tổ 12, phường TD, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Hồng V, sinh năm 1991, trú tại tại tổ 13, phường TD, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

3. Chị Sầm Thị L, sinh năm 1975, trú tại xóm G, xã HT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 10 phút, ngày 15/12/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 13, phường TD, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên phát hiện 02 nam giới có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tiến hành kiểm tra, 02 nam giới khai họ tên là Tạ Tiến Đ1, sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố K, phường LS, thành phố CS và Phạm Thanh T1, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố TB, phường LS, thành phố CS, tỉnh Thái Nguyên. Đ1 khai nhận đang cất giấu ma túy trên người, thu giữ trong áo của Đ1 đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu xanh chứa 184 viên nén màu đỏ và 02 viên nén màu xanh, Đ1 và T1 đều khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá và ma túy tổng hợp hồng phiến, được niêm phong bì ký hiệu D. Ngoài ra, còn tạm giữ của Đ1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp 02 số thuê bao là 0394.598.057 và 0823.582.965 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp số thuê bao 0338.187.882. Tạm giữ của T1 02 điện thoại di động, 01 chiếc nhãn hiệu Nokia lắp số thuê bao 0345.976.624 và 01 chiếc nhãn hiệu Oppo lắp số thuê bao 0368.890.545; 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha sơn màu đen biển kiểm soát 20F1- 637.98, tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Tại Cơ quan điều tra Đ1 và T1 đều khai báo số ma túy nêu trên là của Hà Trọng H, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố C, phường LS, thành phố CS, tỉnh Thái Nguyên đưa cho cả hai để đi bán. Cơ quan điều tra đã thi hành Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Trọng H.

Ngày 15/12/2021 Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Đ1 và T1 và khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Trọng H tại tổ dân phố C, phường LS, thành phố CS, tỉnh Thái Nguyên: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Cùng ngày Cơ quan điều tra khám xét nơi thuê trọ của H tại xóm G, xã HT, PY, Thái Nguyên, thu giữ: Trong túi áo khoác trước bên phải H đang mặc có 01 lọ nhựa màu xanh, bên trong có 13 túi nilon màu trắng, bên trong túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 06 túi nilon màu trắng bên trong túi đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 08 viên nén màu xám; 01 túi nilon màu trắng bên trong 44 viên nén màu hồng và 06 viên nén màu xanh, được niêm phong bì ký hiệu H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng lắp số thuê bao 0337.411.992. Tại góc nhà phía bên phải trong gian phòng đầu tiên có 01 túi nilon màu xanh, bên trong có 16 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu trắng; 01 lọ thủy tinh màu nâu bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng trong có 37 viên nén màu xám; 02 túi nilon màu trắng trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu xanh trong chứa 78 viên nén màu hồng và 05 viên nén màu xanh; 01 túi nhựa màu xanh chứa 04 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa cục chất bột màu trắng; 07 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong bì ký hiệu H3; 20 túi nilon màu trắng kích thước (3x5)cm; 01 cân điện tử màu đen nhãn hiệu Pocket scale. Tại góc nhà bên phải trong phòng ngủ có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 03 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng, được niêm phong bì ký hiệu H2 và 5.000.000 đồng.

Mở niêm phong điện thoại bì niêm phong ký hiệu D9, kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Nokia tại phần danh bạ có lưu số điện thoại 0337.411.992, tên “a”, Đ1 khai nhận đây là số điện thoại của H, người đưa ma túy cho Đ1 và T1 mang đi bán. Còn chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo có 01 cuộc gọi nhỡ từ số 0337.411.992, gọi ngày 15/12/2021, T1 khai nhận đây là số điện thoại của H, người đưa ma túy cho Đ1 và T1 mang đi bán. Mở bì niêm phong ký hiệu H9, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, tại phần danh bạ có lưu số điện thoại 0394.598.057, lưu tên “Số nhà” và số điện thoại 0368.890.545 lưu tên “S Tung”, H khai nhận đây là 02 số điện thoại của Đ1 và T1, là 02 người H đã đưa ma túy đi bán vào ngày 15/12/2021. Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy mẫu gửi giám định đối với số chất tinh thể, chất bột, viên nén đã thu giữ, kết quả:

Mở bì niêm phong ký hiệu D, bên trong có chất tinh thể màu trắng viên nén, cân tổng khối lượng chất tinh thể màu trắng được 49,584 gam, lấy 25,383 gam làm mẫu gửi giám định, được niêm phong bì ký hiệu D1, còn lại niêm phong lưu kho. Cân 184 viên nén màu đỏ được tổng khối lượng 18,44 gam, lấy 6,59 gam làm mẫu gửi giám định, được niêm phong bì ký hiệu D3, còn lại niêm phong lưu kho; cân 02 viên nén màu xanh được tổng khối lượng 0,175 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, được niêm phong bì ký hiệu D5.

Bì niêm phong ký hiệu H1, cân toàn bộ số chất tinh thể màu trắng, được tổng khối lượng là 3,368 gam; toàn bộ số chất bột màu trắng có tổng khối lượng là 1,104 gam; toàn bộ số viên nén màu xám có tổng khối lượng là 3,536 gam; toàn bộ số viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 4,681 gam; toàn bộ số viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 0,563 gam, lấy tất cả số vật chứng này làm mẫu gửi giám định, được niêm phong bì ký hiệu từ M1-M5.

Bì niêm phong ký hiệu H2, cân toàn bộ số chất tinh thể màu trắng có tổng khối lượng là 1,719 gam; toàn bộ số chất bột màu trắng có tổng khối lượng là 0,589 gam, lấy tất cả số vật chứng làm mẫu gửi giám định, được niêm phong bì ký hiệu từ N1-N2.

Bì niêm phong ký hiệu H3, cân toàn bộ số chất bột màu trắng có tổng khối lượng là 3,240 gam; toàn bộ số viên nén màu xám có tổng khối lượng là 16,812 gam; toàn bộ số chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng là 1,095 gam; toàn bộ số viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 7,911 gam; toàn bộ số viên nén màu xanh có tổng khối lượng là 0,496 gam; toàn bộ số cục chất bột màu trắng có tổng khối lượng là 24,260 gam; toàn bộ số chất tinh thể màu trắng đựng trong 07 túi nilon màu trắng có tổng khối lượng là 43,091 gam, lấy tất cả số vật chứng này làm mẫu gửi giám định, được niêm phong bì ký hiệu từ G1-G7.

Tại Kết luận giám định chất ma túy số 35 ngày 24/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu D1 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng gửi giám định là 25,383 gam, tổng khối lượng thu giữ ban đầu là 49,584 gam. Các viên nén màu đỏ trong phong bì ký hiệu D3 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng gửi giám định là 6,59 gam, tổng khối lượng thu giữ ban đầu là 18,44 gam. Các viên nén màu xanh trong phong bì ký hiệu D5 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,175 gam.

Tại Kết luận giám định chất ma túy số 36 ngày 24/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu N1,G3,G7 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 45,905 gam. Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu N2, M2, G1, G6 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 29,193 gam. Chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là chất ma túy loại Ketamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 3,368 gam. Các viên nén màu xám trong phong bì ký hiệu M3,G2 gửi giám định là chất ma túy loại MDMA, có khối lượng thu giữ ban đầu là 20,348 gam. Các viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu M4,G4 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 12,592 gam. Các viên nén màu xanh trong phong bì ký hiệu M5,G5 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 1,059 gam.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận như sau: Ngày 10/12/2021, Hà Trọng H đến khu vực ngã tư ĐQ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên gặp một người phụ nữ tên C1 không rõ nhân thân. C1 đặt mua của H 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá và 01 gói ma túy tổng hợp hồng phiến, với giá 26.000.000 đồng, rồi hẹn 13 giờ ngày 15/12/2021, đem ma túy đến ngõ 139, đối diện cửa hàng bán xăng, thuộc phường TD, thành phố TN để hai bên mua bán. Khoảng 20 giờ ngày 12/12/2021, H đi đến khu vực ngã tư CS, tỉnh Thái Nguyên mua của một nam giới không rõ nhân thân gồm: 01 gói Heroine, 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá, 01 gói ma túy tổng hợp hồng phiến, 01 gói ma túy thuốc lắc và 01 gói ma túy Ketamine, với giá 40.000.000 đồng, sau đó mang về phòng trọ của mình tại xóm G, xã HT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên cất giấu. H lấy ra một phần ma túy sử dụng cho bản thân, số còn lại H chia ra thành nhiều gói nhỏ cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2021, H lấy ra 01 gói ma túy tổng hợp dạng đá, 01 gói ma túy tổng hợp dạng viên nén có tổng khối lượng là 68,199 gam, rồi giao cho Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 mang số ma túy trên đến ngõ 139 đối diện cửa hàng bán xăng, thuộc phường TD, thành phố TN để bán cho C1. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, T1 và Đ1 mang số ma túy trên đến địa chỉ nêu trên để bán ma túy cho C1, nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ vật chứng. Khám xét nơi trọ của H, Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 29,193 gam Heroine; 59,556 gam Methamphetamine; 20,348 gam MDMA; 3,368 gam Ketamine.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS, ngày 06/5/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Hà Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm, về tội danh tuyên bố các bị cáo Hà Trọng H, Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Trọng H 20 năm tù.

- Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt các bị cáo Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1, mỗi bị cáo từ 16 năm đến 17 năm tù.

* Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt tiền bị cáo H từ 10 triệu đến 15 triệu đồng; bị cáo T1 và Đ1, mỗi bị cáo phạt tiền từ 05 triệu đến 10 triệu đồng.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo xác định, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Hà Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, các bị cáo Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng. Các Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh đặc biệt của các bị cáo, nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Các Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo nhất trí với nội dung bào chữa của Luật sư.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên và người bào chữa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Luật sư và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/12/2021, bị cáo Hà Trọng H đã có hành vi mua của một người nam giới không rõ nhân thân 05 gói ma túy các loại, với giá 40.000.000 đồng, sau đó đem về phòng trọ của mình tại xóm G, xã HT, thành phố PY cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Sau đó H lấy 1 phần để sử dụng, số ma túy còn lại H chia thành nhiều gói nhỏ, với mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2021, H lấy 68,199 gam ma túy loại Methamphetamine, giao cho Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 mang đến ngõ 139, thuộc phường TD, thành phố TN để bán cho người nữ giới tên là C1 không rõ nhân thân, với giá 26.000.000 đồng. Đến 13 giờ 10 phút cùng ngày, T1 và Đ1 mang số ma túy trên đến địa chỉ nêu trên để bán cho C1, nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Khám xét nơi trọ của H thu giữ gồm: 29,193 gam ma túy loại Heroine; 59,556 gam ma túy loại Methamphetamine; 20,348 gam ma túy loại MDMA; 3,368 gam ma túy loại Ketamine. Tổng khối lượng chất ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo T1 và Đ1 là 68,199 gam. Tổng khối lượng chất ma túy các loại thu giữ H là 177,296 gam Heroine, Methamphetamine, MDMA; 3,368 gam Ketamine.

Với hành vi nêu trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hà Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, điều luật có nội dung:

Điều 251 Tội mua bán trái phép chất ma túy.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 đến 07 năm.

…3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

…b) Methamphetamine… có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam.

4) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

...h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng...của các chất đó tương đương với khối lượng...chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hủy hoại sức khỏe của con người, làm nguy cơ gia tăng các loại tội phạm khác. Tính chất đặc biệt nghiêm trọng trong vụ án này, thể hiện ở khối lượng ma túy do các bị cáo mua bán trái phép nhằm mục đích kiếm lời.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Trước khi phạm tội các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn, hối cải. Do vậy, các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo Đ1 có ông ngoại được nhà nước tặng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D2, bên ngoài ghi có 24,201 gam ma túy Methamphetamine; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D4, bên ngoài ghi có 11,854 gam ma túy Methamphetamine; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D1, bên ngoài ghi chứa 25,201 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D3, bên ngoài ghi chứa 6,442 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D5, bên ngoài ghi chứa 0,053 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu N1, bên ngoài ghi chứa 1,627 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu N2, bên ngoài ghi chứa 0,556 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M1, bên ngoài ghi chứa 3,131gam Ketamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M2, bên ngoài ghi chứa 1,070 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M3, bên ngoài ghi chứa 3,278 gam MDMA, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M4, bên ngoài ghi chứa 4,422 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M5, bên ngoài ghi chứa 0,400 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G1, bên ngoài ghi chứa 3,205 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G2, bên ngoài ghi chứa 16,545 gam MDMA, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G3, bên ngoài ghi chứa 0,803 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G4, bên ngoài ghi chứa 7,810 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G5, bên ngoài ghi chứa 0,309 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G6, bên ngoài ghi chứa 24,244 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định; 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G7, bên ngoài ghi chứa 42,793 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định. 02 lọ nhựa màu xanh, 01 lọ thủy tinh màu nâu; 20 túi nilon màu trắng có cùng kích thước (03x05) cm; 01 cân điện tử vỏ nhựa màu đen nhãn hiệu POCKET SCALE. Đối với số vật chứng nêu trên thuộc vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh của bị cáo Đ1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xám của bị cáo T1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của bị cáo H. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa, xác định các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu xanh của bị cáo Đ1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen của bị cáo T1. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa, xác định các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER sơn màu đen, biển kiểm soát 20F1-637.98, số khung RLCUG1010MY336984; số máy G3D4E1108018. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa, xác định thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Hồng N cho bị cáo T1 mượn sử dụng, chị N không biết T1 sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội, xét thấy cần trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với số tiền 5.000.000 đồng do Cơ quan điều tra khám xét thu giữ của bị cáo H. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa, xác định số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H.

Về hình phạt bổ sung: Đối với các bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận, vì vậy cần phạt các bị cáo một khoản tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để sung công quỹ nhà nước.

Trong vụ án này, theo bị cáo H khai đối với số ma túy mua của người nam giới về để bán cho người tên là C1 nhưng không rõ nhân thân. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Tuyên bố các bị cáo Hà Trọng H, Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Trọng H 20 (hai mươi) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/12/2021.

- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh T1 17 (mười bảy) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2021.

- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Tiến Đ1 16 (mười sáu) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2021.

3. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Hà Trọng H 10.000.000 đồng (mười triệu đồng); các bị cáo Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1, mỗi bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy gồm:

1. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D2 trên mép dán có chữ ký của Tạ Tiến Đ1, Phạm Thanh T1 cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bên bên ngoài ghi có 24,201 gam chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine lưu kho theo quy định.

2. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D4 trên mép dán có chữ ký của Tạ Tiến Đ1, Phạm Thanh T1 cùng thành phần tham gia niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi có 11,854 gam viên nén màu đỏ nghi là ma túy tổng hợp Methamphetamine lưu kho theo quy định.

3. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D1, trên mép dán có chữ ký của Trương Đăng Tam, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 25,201 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

4. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D3, trên mép dán có chữ ký của Trương Đăng Tam, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 6,442 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

5. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu D5, trên mép dán có chữ ký của Trương Đăng Tam, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 0,053 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

6. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu N1, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi có 1,627 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

7. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu N2, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 0,556 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định.

8. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M1, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 3,131gam Ketamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

9. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M2, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 1,070 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định.

10. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M3, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 3,278 gam MDMA, mẫu hoàn trả sau giám định.

11. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M4, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 4,422 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

12. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu M5, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 0,400 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định.

13. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G1, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 3,205 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định.

14. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G2, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 16,545 gam MDMA, mẫu hoàn trả sau giám định.

15. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G3, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 0,803 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

16. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G4, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 7,810 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

17. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G5, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 0,309 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

18. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G6, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 24,244 gam Heroine, mẫu hoàn trả sau giám định.

19. 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu G7, trên mép dán có chữ ký của Trần Đức Thủy, Dương Ngọc Khánh cùng dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên. Bên ngoài ghi chứa 42,793 gam Methamphetamine, mẫu hoàn trả sau giám định.

20. 02 lọ nhựa màu xanh và 01 lọ thủy tinh màu nâu.

21. 20 túi nilon màu trắng có cùng kích thước (03x05)cm.

22. 01 cân điện tử vỏ nhựa màu đen nhãn hiệu POCKET SCALE.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 03 chiếc điện thoại di động, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, được niêm phong trong bì niêm phong theo quy định ký hiệu T10 của bị cáo T1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xám, được niêm phong trong bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ10 của bị cáo Đ1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone được niêm phong trong bì niêm phong theo quy định ký hiệu H10 của bị cáo H.

- Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh được niêm phong trong bì niêm phong theo quy định ký hiệu T10 của bị cáo T1 để đảm bảo thi hành án.

- Tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, được niêm phong trong bì niêm phong theo quy định ký hiệu Đ10 của bị cáo Đ1 để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER sơn màu đen, biển kiểm soát 20F1-637.98, số khung RLCUG1010MY336984; số máy G3D4E1108018, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, xe không gương chiếu hậu bên phải, không kiểm tra máy bên trong cho chị Nguyễn Hồng N.

- Tạm giữ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) của bị cáo H để đảm bảo thi hành án.

Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên ngày 05/5/2022; số tiền 5.000.000 đồng theo Giấy ủy nhiệm chi số 139/127 ngày 04/5/2022 của Kho bạc tỉnh Thái Nguyên.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí. Các bị cáo Hà Trọng H, Phạm Thanh T1 và Tạ Tiến Đ1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu C thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ