vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 15/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ngô N 05 (Năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14 tháng 01 năm 2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày: 15-6-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Khánh Long

Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Tú Phương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Ngô N, sinh năm 1982 (không xác định được ngày tháng sinh) tại C, D; Nơi cư trú: Ấp 1, xã 1, thị xã C, tỉnh D; Nghề nghiệp: làm công; Trình độ văn hoá (học vấn) không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Kha L (c) và bà Lý Thị Ph (s); Anh, chị, em ruột: có 04 người lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1996; có vợ là Thạch Thị Xà Ph1 và 05 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: Ngày 20/4/2004 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 04 năm tù về tội “cố ý gây thương tích” (Bản án số 19/HSST), đến ngày 27/01/2015, bị Tòa án nhân thị xã C xử phạt 05 (Năm) năm tù về tội “ Cố ý gây thương tích” (Bản án số 08/2015/HSST); Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2022, sau đó chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.

1

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn H, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh D; (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Thạch Thị Xà Ph1, sinh năm 1986 (có mặt).

2. Lý Thị Ph, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Ấp 1, xã 2, thị xã C, tỉnh D;

Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Lâm Diệp Panh – nguyên cán bộ Hội nông dân UBND Phường A, thị xã C, tỉnh D (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 19 giờ ngày 13/01/2022, Công an thị xã C trong lúc thi hành nhiệm vụ tại ấp 1, xã 2, thị xã C đã bắt quả tang Ngô N đang đi bộ trên đường, trên tay trái có cầm một bịch ma túy đá để đem ra ngoài chòi hoang sử dụng. Vật chứng thu được tại hiện trường gồm có: 01 bịch nylon bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín (nghi là ma túy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, tiền Việt Nam 200.000 đồng. Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô N tại ấp 1, xã 2 phát hiện và thu giữ 05 bịch nylon hình vuông bị cắt một đầu; 01 chai nhựa màu trắng có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh (cây nỏ); 01 quẹt ga màu trắng; 03 bịch nylon được hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 bịch nylon được quấn dây thun màu vàng bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng được cất giấu trong cán búa bằng kim loại để trên vách nhà nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

- Tại kết luận giám định số 06/PC09-GĐMT ngày 18/01/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh D kết luận như sau:

Gói 1: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (thu giữ của Ngô N tại hiện trường lúc bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,1260 gam, loại Methamphetamine.

Gói 2: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong (thu giữ của Ngô N tại chỗ ở khi khám xét khẩn cấp) gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 1,1322 gam, loại Methamphetamine.

2

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu tiến hành khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Ngô N để tiến hành điều tra làm rõ vụ án.

Trong quá trình điều tra, Ngô N tự khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình gây ra, cụ thể là vào ngày 07/01/2022 Ngô N đi thành phố D gặp 01 người thanh niên tên Q (không rõ lai lịch) mua 15 bịch ma túy đá với số tiền 3.000.000 đồng về cất giấu tại nhà. Ngô N đã sử dụng hết 10 bịch, còn lại 05 bịch N cất giấu trong cây búa để trên vách nhà, đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 13/01/2022 N tiếp tục lấy 01 bịch ma túy đá cầm đi chòi hoang để sử dụng thì bị lực lượng công an thị xã C phát hiện thu giữ.

- Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-VC ngày 09 tháng 5 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C truy tố bị cáo Ngô N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh D trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ngô N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố: Bị cáo Ngô N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

+ Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 53; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Ngô N, đề nghị xử phạt bị cáo Nga từ 05 năm đến 06 năm tù.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 1,2076 gam tinh thể còn lại sau giám định; 01 chai nhựa màu trắng có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh (cây nỏ); 01 quẹt ga màu trắng; 05 bịch nylon hình vuông bị cắt một đầu; 01 cây búa bằng kim loại màu đen.

Trả lại cho bị cáo Ngô N 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, tiền Việt Nam 200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Theo phiếu nhập kho số NK32 ngày 17/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C.

+ Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội xem xét theo quy định pháp luật.

3

- Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Ngô N thống nhất về tội danh, thống nhất về các điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục chung. Đồng thời, bị cáo thuộc đối tượng dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội và không oan sai. Bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.

- Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị Xà Ph1 và Lý Thị Ph trình bày:

Bà Xà Ph1 là vợ và bà Ph là mẹ ruột của bị cáo Ngô N, tuy nhiên việc bị cáo mua ma túy về cất giấu để sử dụng thì bà Ph1và bà Ph đều không biết. Đến khi bị cáo bị Công an bắt quả tang thì mới biết sự việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 94, 98, 100, 102, 104, 105, 106, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Thị Ph nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại Cơ quan cảnh sát điều tra. Đồng thời, tại phiên tòa Vị Kiểm sát viên; Luật sư và bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt bà Ph. Xét thấy, việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh

4

hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô N khai nhận chính bị cáo đã đi thành phố D mua 15 bịch ma túy về cất giấu tại nhà nhằm mục đích sử dụng, đến ngày 13/01/2022 thì bị bắt quả tang với khối lượng chất ma túy thu được là 1,2582 gam, loại Methamphetamine. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo N là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 13/01/2022 và vật chứng thu giữ; biên bản khám xét khẩn cấp và khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định số: 06/PC09-GĐMT ngày 18/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, bị cáo có tiền án thuộc trường hợp tái phạm bị xử phạt 05 năm tù theo Bản án số 08/2015/HSST ngày 27/01/2015 của Tòa án nhân dân thị xã C; chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Ngô N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bản thân bị cáo đã nhận thức được rằng ma túy là chất độc hại, nó làm cho con người lười biếng lao động và làm ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi, dân tộc. Đồng thời, bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua ma túy về cất giấu với mục đích để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang lo sợ không an tâm lao động sản xuất. Nên cần phải có một mức án tương xứng để làm gương cho người khác và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc Khmer và không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có ông nội là liệt sĩ hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 1,2076 gam tinh thể còn lại sau giám định; 01 chai nhựa màu trắng có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp

5

gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh (cây nỏ); 01 quẹt ga màu trắng; 05 bịch nylon hình vuông bị cắt một đầu; 01 cây búa bằng kim loại màu đen.

Trả lại cho bị cáo Ngô N 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, tiền Việt Nam 200.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Theo phiếu nhập kho số NK32 ngày 17/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C.

Về án phí: Xét thấy, bị cáo thuộc đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên và vị Luật sư bào chữa cho bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Riêng đối với người bán ma túy cho bị cáo tên Q (không rõ lai lịch cụ thể), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C chưa xác định được nên chưa có căn cứ để xử lý. Đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ khi có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Ngô N 05 (Năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14 tháng 01 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 1,2076 gam tinh thể còn lại sau giám định; 01 chai nhựa màu trắng có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh (cây nỏ); 01 quẹt ga màu trắng; 05 bịch nylon hình vuông bị cắt một đầu; 01 cây búa bằng kim loại màu đen.

6

Trả lại cho bị cáo Ngô N: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh và tiền Việt Nam 200.000 đồng.

Theo phiếu nhập kho số NK32 ngày 17/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

3. Về án phí: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ