- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng Láo T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HS-ST Ngày 29-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải.
Thẩm phán:
Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Đào;
Ông Lê Bắc Hải;
Bà Lèo Thị Chan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Tráng Láo T, tên gọi khác: Tráng Láo C, sinh ngày 01/01/2001 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Tráng Láo X (đã chết) và bà Sồng Thị L1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trung T1, Luật sư của Văn phòng Luật sư N, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 10/8/2022, Tổ công tác Phòng P Công an tỉnh Sơn La phối hợp cùng các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực bản P1, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Tráng Láo T đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tráng Láo T và thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon màu trắng bên trong có 10 túi nilon đựng 1.911 viên nén màu hồng (nghi ma túy tổng hợp); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO.
Hồi 22 giờ 00 phút ngày 10/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy đối với số vật chứng thu giữ, kết quả: 10 gói nilon bên trong có tổng cộng 1.911 viên nén màu hồng, tổng khối lượng 194,94 gam; trích lấy mỗi túi 05 viên, tổng 50 viên có khối lượng 0,51 gam, ký hiệu từ T1 đến T10 làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 1360/KL-KTHS ngày 12/8/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“- Các mẫu gửi giám định ký hiệu từ T1 đến T10 đều là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 5,1gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 194,94 gam; loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, Tráng Láo T khai nhận:
Tháng 6/2022, Tráng Láo T đang ở nhà tại bản A, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La thì có Mùa A K là người quen biết từ trước của T, ở bên nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (T không biết địa chỉ cụ thể) dẫn một người đàn ông đến giới thiệu tên là T2 nhà ở tỉnh Lai Châu, sau đó T2 xin số điện thoại của T để liên lạc.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/8/2022, T đang làm nương tại bản A, xã L, huyện M thì T2 gọi điện nói khi nào K gọi điện bảo sang lấy ma túy thì T sang Lào lấy ma túy từ K mang về cho T2. T vừa nghe điện thoại của T2 xong thì K gọi điện bảo T sang lấy ma túy đi bán cho T2, giá cả mua bán ma túy K và T2 đã thuận xong. T đồng ý và điều khiển xe máy đi theo đường tiểu ngạch sang Lào. Khi gặp nhau, K đưa cho T 10 túi hồng phiến để mang về bán cho T2 đang đợi tại khu vực bản P1, xã L, huyện M rồi cầm 10.000.000đ T2 trả tiền mua ma túy mang về cho K, K sẽ trả tiền công 500.000đ. T để lại xe máy tại nhà của K rồi mang theo 10 túi hồng phiến đi bộ quay về Việt Nam để giao cho T2.
Khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, T đi đến bản P1, xã L, huyện M thấy T2 và một người đàn ông không quen biết đang ngồi trong xe ô tô đang đỗ ở ven đường (T không nhớ biển kiểm soát), T đi bộ gần đến chiếc xe ô tô để giao 10 túi hồng phiến cho T2 thì bị Tổ công tác Phòng P Công an tỉnh Sơn La bắt quả tang. T2 và người đàn ông đi cùng đã bỏ chạy thoát.
Về nguồn gốc 194,94 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án: Tráng Láo T khai của Mùa A K ở bên Lào (T không biết địa chỉ cụ thể của K) đưa cho để bán cho người đàn ông tên T2 ở tỉnh Lai Châu.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 149/CT-VKS-P1 ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Tráng Láo T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Tráng Láo T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố; xác nhận việc sử dụng chiếc điện thoại bị thu giữ liên lạc với T2 và K để trao đổi việc mua bán ma túy.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Tráng Láo T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Tráng Láo T mức hình phạt 20 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của Tráng Láo T.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo Tráng Láo T trình bày lời bào chữa nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có trình độ văn hóa thấp, nhận thức, hiểu biết pháp luật phần nào còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mở lượng khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Tráng Láo T nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên đối đáp với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo xác định xã L, huyện M, tỉnh Sơn La thuộc khu vực II nên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là không có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo
Ngày 10/8/2022, tại khu vực bản P1, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La, Tráng Láo T bị phát hiện, bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi mang 194,94 gam ma túy, loại Methamphetamine đi bán, mục đích để được hưởng tiền công.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Phòng P Công an tỉnh Sơn La lập hồi 14 giờ 45 phút ngày 10/8/2022 tại trụ sở Công an xã L, huyện M, tỉnh Sơn La đối với Tráng Láo T cùng vật chứng thu giữ là 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 08 túi nilon màu xanh và 02 túi nilon màu hồng, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén màu hồng có ký hiệu WY, T khai là hồng phiến.
- Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng lập hồi 22 giờ ngày 10/8/2022 tại Phòng P Công an tỉnh Sơn La xác định: Bên trong 08 túi nilon màu trắng và 02 túi nilon màu hồng có tổng cộng 1.911 viên nén màu hồng, tổng khối lượng 194,94 gam.
- Kết luận giám định số 1360/KL-KTHS ngày 12/8/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 194,94 gam; loại Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của Tráng Láo T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1987, trú tại: Bản P3, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang đối với Tráng Láo T; phù hợp với khối lượng ma túy thu giữ; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Tráng Láo T đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt
Bị cáo Tráng Láo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán chất ma túy để kiếm lời là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép 194,94 gam ma túy, loại Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “… Methamphetamine … có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo Tráng Láo T thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới bảo đảm biện pháp cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo Tráng Láo T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở khu vực biên giới nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, bị cáo Tráng Láo T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nhưng xét bị cáo đang sống cùng mẹ, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về các đối tượng có liên quan
Đối với Mùa A K và người đàn ông tên T2: Tráng Láo T khai Mùa A K là người đưa ma túy cho bị cáo để mang đi bán cho T2; bị cáo không biết địa chỉ của K ở Lào; không biết họ tên đầy đủ và không biết địa chỉ của T2; ngoài lời khai của bị cáo thì không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra là có cơ sở.
Về vật chứng
- Đối với chiếc xe máy Tráng Láo T khai nhận đã sử dụng để đi sang Lào lấy ma túy của K, sau đó để lại tại nhà K: Bị cáo khai chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, được mua lại tại một quán xe máy cũ ở khu vực thị trấn M từ năm 2018 với giá 22.000.000đ, bị cáo không nhớ tên chủ quán và tên quán; không nhớ biển kiểm soát và sau khi mua xe thì chưa sang tên đổi chủ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe máy nêu trên nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.
- Đối với 189,84 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy cùng vỏ gói niêm phong ban đầu: Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của Tráng Láo T: Xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng để liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí
Bị cáo Tráng Láo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Tráng Láo T (Tráng Láo C) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Tráng Láo T (Tráng Láo C) 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 189,84 gam ma túy, loại Methamphetamine + 08 túi nilon màu xanh + 02 túi nilon màu hồng + vỏ niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 chiếc phong bì do Phòng P2 Công an tỉnh Sơn La phát hành.
2.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng cát, màn hình cảm ứng, kèm 01 sim trong điện thoại, đã qua sử dụng (thu giữ của Tráng Láo T).
3. Về án phí
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Tráng Láo T (Tráng Láo C) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/12/2022).
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Phòng P - Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam - Công an tỉnh Sơn La; - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV&THA; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Hải |