- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hai sức khoẻ của người khác (điều 108 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tô Triệu Quang Sphạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN K, THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án số: 30/2022/HS-ST Ngày: 12/04/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ C
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị NB
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị H – Phó trưởng phòng lao động thương binh và xã hội quận K.
2. Bà Trần Thị D – Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ phường A.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị T - Thư ký Tòa án nhân dân quận K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K, thành phố C tham gia phiên tòa: ông Bùi HĐ, ông Tô VT - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2022/HSST ngày 27 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173 /2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 03 năm 2022 đối với bị cáo:
1/ Tô Triệu Quang S (Tí Hon), sinh ngày: 21/12/2002, tại thành phố C.
Nơi cư trú: đường A, phường H, quận K, thành phố C;
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ học vấn: 9/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Tô Hồng T và bà Lê Thị P;
Bị cáo có một người chị sinh năm 1988;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/03/2021; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an quận K.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/Nguyễn Thiên P, sinh ngày: 11/08/2004, tại thành phố C.
Nơi cư trú: đường S, phường H, quận K, thành phố C;
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ học vấn: 7/12;
Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Chiến T và bà Nguyễn T;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/01/2022; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an quận K.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thiên P, bị cáo Tô Triệu Quang S - Luật sư Vũ Xuân B – Văn phòng luật sư Xuân B - Đoàn luật sư thành phố C.
-Bị hại: Phan Huỳnh Tuấn K, sinh ngày: 09/03/2005 (có mặt).
Đại diện hợp pháp của bị hại bà: Phan Kim T, sinh năm: 1964 (mẹ ruột của bị hại K) (có mặt)
Địa chỉ: khu vực A, phường A, quận K, thành phố C.
Địa chỉ liên hệ: đường V, phường T, quận K, thành phố C.
Người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Huỳnh Chí T – Công ty luật hợp danh TP C – Đoàn luật sư thành phố C.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Lê Thị P, sinh năm: 1970 (có mặt)
Địa chỉ: 19/9 hẻm 4 N, phường L, quận C, thành phố C.
2/ Ông Nguyễn Quốc A sinh ngày: 11/06/2004 (có mặt)
Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Quốc A – Bà Đỗ Kim T, sinh năm: 1979 (có mặt).
Địa chỉ: khu vực S, phường A, quận K, thành phố C.
Người làm chứng:
1/ Ông Bùi Lê Quang M, sinh ngày: 07/03/2003 (có mặt).
Địa chỉ: N6A khu 1 Đại học C, đường 30/4, phường Hưng Lợi, quận K, thành phố C.
2/ Ông Võ Hứa Gia B o, sinh ngày: 08/03/2003 (có mặt)
Địa chỉ: 120/30 khu vực 4, phường An Bình, quận K, thành phố C.
3/ Ông Trương Minh Kh i, sinh ngày: 17/05/2005 (có mặt)
Địa chỉ: 153A/4 khu vực 5, phường An Bình, quận K, thành phố C.
Đại diện hợp pháp của ông Trương Minh Kh i – Bà Mai Thị Thu Cúc (vắng mặt).
Địa chỉ: 796/17 Bis Hậu Giang, phường 12, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Ông Nguyễn Phú Giàu, sinh ngày: 29/10/2005 (có mặt)
Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Phú Giàu – ông Nguyễn Văn Ba (vắng mặt)
Đia chỉ: 2/10A đường 3/2, phường Hưng Lợi, quận K, thành phố C.
5/ Ông Nguyễn Thành Đạt, sinh ngày: 11/08/2004 (có mặt)
Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Thành Đạt – bà Phan Mộng Linh (vắng mặt)
Địa chỉ: 37/1 khu vực 1, phường An Bình, quận K, thành phố C.
6/ Ông Bùi Văn Thế Trân, sinh ngày 18/06/2004 (vắng mặt).
Đại diện hợp pháp của ông Bùi Văn Thế Trân – Bà Nguyễn Thị Ánh Hạnh (vắng mặt)
Địa chỉ: Nhà Trọ 694 khu vực 3, phường An Bình, quận K, thành phố C.
7/ Ông Võ Nhật Thiên, sinh ngày: 08/04/2005 (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp của ông Võ Nhật Thiên – ông Võ Thanh S (vắng mặt)
Địa chỉ: 58H hẻm 58 đường 3/2, phường Hưng Lợi, quận K, thành phố C.
8/ Ông Nguyễn Ngọc Huy, sinh ngày 07/03/2005 (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Ngọc Huy – ông Nguyễn Ngọc Hội (vắng mặt).
Địa chỉ: đường S, phường H, quận K, thành phố C.
9/ Ông Phan Phước S sinh ngày: 01/07/2003 (vắng mặt)
Đại diện hợp pháp của ông Phan Phước S – Bà Phan Lê Thúy H (mẹ ruột) (vắng mặt).
Địa chỉ: khu vực 4, phường B, quận C, thành phố C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào kho ng 21 giờ 00 phút ngày 15/12/2020, trong lúc uống nước tại quán Xóm, địa chỉ số: phường A, quận K, thành phố C cùng với Nguyễn Thiên P, Bùi Lê Quang M và Võ Hứa Gia B o thì Tô Triệu Quang S(Tí hon) rủ Phúc đi mua thức ăn; S điều khiển xe mô tô chở Phúc, đến gần cầu Cái Răng thì suýt va chạm xe với Nguyễn Quốc Ađiều khiển xe mô tô chở Trương Minh K chạy hướng ngược lại, hai bên có cử chỉ khiêu khích qua lại. S tiếp tục chở Phúc đến gần cầu Hưng Lợi để mua h i s n nhưng không có nên quay trở lại quán Xóm tiếp tục uống nước, lúc này Phúc nói với S là “nhóm này (chỉ Quốc A) thường hay kiếm chuyện đánh, chém người khác, có đồ (hung khí) thì về lấy đi”, nghe Phúc nói vậy nên S đồng ý chở Phúc về nhà S tại số 19/9B, Hẻm 4, đường Nhật T o, phường Lê Bình, quận Cái Răng; Phúc đứng ngoài đầu hẻm, S vào nhà lấy theo 02 cây dao tự chế để vào túi đựng vợt tennis rồi quay ra chở Phúc quay lại quán cà phê Xóm. Về phía Quốc Avà Kh i sau khi có cử chỉ khiêu khích qua lại với S, Phúc cũng đến quán cà phê Xóm, ngồi cùng với Bùi Văn Thế Trân, Phan Phước S (S Kẻng). Do vừa có mâu thuẫn với S, Phúc nên Quốc Aquyết định về nhà lấy dao (loại dao tự chế) và cất xe mô tô nên kêu Trân chạy xe theo để chở Quốc Aquay lại quán Xóm.
Sau khi lấy hung khí, S chở Phúc quay lại quán Xóm, lúc này trong quán có Phan Phước S (S Kẻng) và Kh i (bạn của Quốc A) đang ngồi uống nước, nhìn thấy S, Phúc mang theo túi đựng vợt tennis đến thì S Kẻng biết bên trong có hung khí, sợ bị đánh do chơi cùng nhóm với Quốc Anên S Kẻng đã gọi điện thoại nói với Nguyễn Thành Đ (đang uống sinh tố gần quán Xóm với Phan Huỳnh Tuấn K, Nguyễn Ngọc Huy, Võ Nhật Thiên và Nguyễn Phú G việc bị S, P chặn trước cửa quán Xóm để nhóm Đ đến gi i cứu. Sau cuộc gọi của S Kẻng, nhóm của Đạt đi đến quán Xóm, khi đi K mang theo 01 cây liềm cất giấu trong người; đến nơi không thấy x y ra chuyện gì nên c nhóm vào ngồi cùng S Kẻng và Kh i. Đến kho ng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trân chở Quốc Aquay lại quán Xóm, nhìn thấy S, Phúc đang ngồi uống cà phê ở trước quán nên Quốc Acầm cây dao (được quấn bên ngoài bằng áo khoác) mang theo xông vào chém S và Phúc nhưng không trúng, S mở túi đựng vợt tennis lấy cây dao mũi bằng chém lại Quốc Anhưng cũng không trúng, c hai cùng quơ hung khí để dọa nhau, Phúc thấy trong túi còn 01 cây dao mũi cong nên cầm lên để hỗ trợ S thì Quốc Abỏ chạy về hướng bãi xe của quán; lúc này K từ phía sau lưng S xông đến dùng liềm chém 01 nhát trúng vào tay ph i của S rồi quay lưng bỏ chạy vào bên trong quán, bị chém từ phía sau, S quay lại tìm thì Phúc chỉ K chính là người chém S. S cầm dao đuổi kịp K rồi vung dao chém, K dùng ghế đỡ nên bị chém trúng vào tay trái làm đứt lìa ngón cái bàn tay trái, K bỏ chạy về hướng hồ cá của quán, S tiếp tục đuổi theo chém thêm 01 nhát trúng vào cẳng tay ph i của K, K lùi về phía sau, bị ngã vào hồ cá, thấy K bị thương nên S dừng lại và đi ra ngoài. Trong lúc S đuổi chém K bên trong quán, Phúc cầm dao đứng chắn ngay lối vào quán nên khi Quốc Aquay lại thì không dám vào để hỗ trợ K. Sau khi chém gây thương tích đối với K; S và Phúc cất lại 02 cây dao vào túi đựng rồi lên xe bỏ chạy đến khu dân cư 91B cất giấu trong bụi cây, sau đó c hai đi về nhà.
Phan Huỳnh Tuấn K bị thương và được Quốc Avà Trân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa TP. C, điều trị đến ngày 21/12/2020 ra viện.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi tennis màu đỏ - đen, dài 72 cm, bên ngoài có in chữ YONEX, bị thủng 01 lỗ dài 09 cm;
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 68,5 cm, rộng không đều lớn nhất 5 cm, phần cán dài 39,5 cm, lưỡi cong dài 29 cm; 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 76,5 cm, rộng không đều lớn nhất 7cm, phần cán dài 34 cm, phần lưỡi dài 42,5 cm.
- 01 cây liềm bằng kim loại, cán gỗ, dài 52 cm, rộng 2cm, mũi nhọn, phần cán dài 16 cm, phần lưỡi dài 36 cm.
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán bọc nhựa, dài 67,5 cm, rộng 4 cm, mũi nhọn, phần cán dài 22 cm, phần lưỡi dài 45,5 cm.
B n kết luận giám định pháp y về thương tích số: 26/TgT ngày 02/02/2021 và số 179 ngày 06/9/2021 của Trung tâm pháp y thành phố C đối với thương tích Phan Huỳnh Tuấn K, kết luận:
- Vết thương mặt sau 1/3 dưới cẳng tay ph i gây gãy đầu dưới hai xương cẳng tay, đứt gân cơ và mất đoạn thần kinh gian cốt sau, đã được phẫu thuật kết hợp xương kết hợp điều trị nội khoa. Hiện tại vết thương và vết mở rộng vết thương đã lành sẹo, còn dụng cụ kết hợp xương, các vị trí gãy xương đang can liền, hạn chế vận động gấp duỗi cổ tay và các ngón tay ph i mức độ nhẹ.
- Vết thương ngón I bàn tay trái gây mất bán phần ngón I, đã được phẫu thuật tạo mỏm cụt kết hợp điều trị nội khoa. Hiện tại vết thương đã lành sẹo và mỏm cụt ngón I bàn tay trái, ghi nhận mất hoàn toàn vận động ngón I.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 37% (Ba mươi b y phần trăm). Thương tích là do vật sắc bén gây nên.
B n kết luận giám định pháp y về thương tích số: 198/TgT ngày 12/10/2021 của Trung tâm pháp y thành phố C đối với thương tích của Tô Triệu Quang S kết luận: vết thương phần mềm mặt sau 1/3 trên cẳng tay ph i đã được điều trị. Hiện tại vết thương đã lành, sẹo không nh hưởng chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 01% (Một phần trăm).
Quá trình điều tra, bị cáo Tô Triệu Quang S thành khẩn khai báo hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được. Đối với bị cáo Nguyễn Thiên P còn quanh co, thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội của b n thân, chưa thể hiện sự ăn năn hối c i. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo S; lời khai ban đầu của bị cáo Phúc, lời khai của bị hại K; lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quốc Avà lời khai người làm chứng Bùi Lê Quang M, Võ Hứa Gia B o,… cùng những chứng cứ khác, đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội Cố ý gây thương tích với vai trò đồng phạm của bị cáo Nguyễn Thiên P. Về nhân thân: bị cáo Tô Triệu Quang Svà Nguyễn Thiên P tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi, chưa có tiền án, tiền sự.
Đối với Phan Huỳnh Tuấn K có hành vi dùng hung khí gây thương tích cho Tô Triệu Quang Svới tỷ lệ thương tích là 01%, S có đơn yêu cầu khởi tố vụ án để xử lý K. K gây thương tích cho S vào ngày 5/12/2020 khi đó K 15 tuổi 09 tháng 06 ngày. Căn cứ kho n 2 Điều 12 và kho n 1 Điều 134 Bộ luật hình sự thì K chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Công an quận K để ra Quyết định xử lý hành chính K với hình thức phạt C nh cáo theo quy định tại Điều 22 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Quốc Anh, qua điều tra xác định việc K gây thương tích cho S là hoàn toàn độc lập với ý chí của Quốc Anh, Quốc Akhông lôi kéo và xúi giục K mang theo hung khí để đánh nhau với S và Phúc, b n thân Quốc Acũng chưa gây thương tích cho S và Phúc. Do đó, chưa đủ căn cứ để tiến hành khởi tố bị can để xử lý đối với Nguyễn Quốc Avề tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự với vai trò là đồng phạm của K.
Đối với Bùi Văn Thế T, Phan Phước S, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Ngọc H, Võ Nhật T và Nguyễn Phú G, thời điểm x y ra vụ án, những người trên có đến uống cà phê cùng bàn với K nhưng không mang hung khí và cổ vũ K, Quốc Ađánh nhau, không tham gia đánh nhau với nhóm của S, Phúc. Bỏ chạy khi K bị S chém. Do đó không đủ căn cứ để xử lý những đối tượng trên về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: bà Lê Thị P mẹ ruột bị cáo Tô Triệu Quang Sđã bồi thường số tiền 57.000.000đ (năm mươi b y triệu đồng) cho bị hại Phan Huỳnh Tuấn K, bị hại K tiếp tục yêu cầu bị cáo S và bị cáo Phúc ph i bồi thường thêm số tiền còn lại là 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Tô Triệu Quang Svà Nguyễn Thiên P thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin gi m nhẹ hình phạt.
Bị hại K, đại diện hợp pháp của bị hại K – Bà Phan Kim T, Người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại K - Luật sư Huỳnh Chí T cùng thống nhất yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) và xin gi m nhẹ hình phạt cho c hai bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị P trình bày: Tôi đã chi tr một phần chi phí điều trị cho bị hại và không có yêu cầu gì đối với số tiền trên.
Ông Nguyễn Quốc A, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc A- Bà Đỗ Kim T thống nhất với các biên b n ghi lời khai trong hồ sơ vụ án và không trình bày gì thêm.
Luật sư Vũ Xuân B trình bày: Đối với bị cáo S Luật sư thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị cho bị cáo S được hưởng hình phạt thấp nhất. Đối với bị cáo Phúc luật sư cho rằng bị cáo P mang hung khí khi uống cà phê chỉ để tự vệ. Việc bị cáo P cầm dao chặn trước cửa quán cà phê Xóm không là ph i thị uy, ngăn nhóm của Quốc Avào đánh S mà ý định là ngăn hậu qu xấu hơn x y ra khi nhóm Quốc Avà nhóm của S đánh nhau, bị cáo P không trực tiếp gây thương tích cho bị hại K nên hành vi của bị cáo Phúc không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đề nghị tuyên bị cáo P không phạm tội đồng thời áp dụng tình tiết gi m nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i cho bị cáo Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Truy tố bị cáo Tô Triệu Quang Svà Nguyễn Thiên P về tội “Cố ý gây thương tích”
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c kho n 3 Điều 134, điểm b, s kho n 1 Điều 51, kho n 2 Điều 51, điểm i kho n 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Tô Triệu Quang Smức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c kho n 3 Điều 134, điểm s kho n 1 Điều 51, kho n 2 Điều 51, điểm i kho n 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên P mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng:
Các vật chứng gồm:
- 01 túi tennis màu đỏ - đen, dài 72 cm, bên ngoài có in chữ YONEX, bị thủng 01 lỗ dài 09 cm;
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 68,5 cm, rộng không đều lớn nhất 5 cm, phần cán dài 39,5 cm, lưỡi cong dài 29 cm;
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 76,5 cm, rộng không đều lớn nhất 7cm, phần cán dài 34 cm, phần lưỡi dài 42,5 cm.
- 01 cây liềm bằng kim loại, cán gỗ, dài 52 cm, rộng 2cm, mũi nhọn, phần cán dài 16 cm, phần lưỡi dài 36 cm.
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán bọc nhựa, dài 67,5 cm, rộng 4 cm, mũi nhọn, phần cán dài 22 cm, phần lưỡi dài 45,5 cm là hung khí dùng để thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Ghi nhận các bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, hung khí đã thu giữ và b n kết luận giám định pháp y về thương tích đã thể hiện bị cáo Tô Triệu Quang S dùng dao tự chế để chém và gây thương tích tại mặt sau 1/3 dưới cẳng tay ph i và ngón I bàn tay trái của bị hại K với tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 37%. Bị cáo Tô Triệu Quang Svà Nguyễn Thiên P cùng thống nhất ý chí, cùng phối hợp để thực hiện hành vi phạm tội. Khi có va chạm x y ra khi tham gia giao thông bị cáo Phúc đã rủ bị cáo S chuẩn bị công cụ phạm tội (về nhà lấy hung khí), khi Quốc Acó hành vi tấn công, các bị cáo đã cùng nhau rút dao tự chế ra chống tr điều này thể hiện sự tiếp nhận ý chí khi thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, khi K tấn công S từ phía sau thì Phúc là người chỉ cho S biết K đã tấn công S, khi S và K chém nhau bên trong quán cà phê Xóm Phúc đã cầm dao tự chế đứng trước cửa để thị uy. Bị cáo S là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại K, bị cáo Phúc có hành vi giúp sức tích cực cho bị cáo S để gây thương tích cho bị hại K nên bị cáo S có mức hình phạt cao hơn bị cáo Phúc. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người khác được pháp luật b o vệ, làm xấu tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận K đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Luật sư B cho rằng hành vi của bị cáo P không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và đề nghị tuyên bị cáo P không phạm tội. Bị cáo P không thống nhất với quan điểm của luật sư, bị cáo xin lỗi bị hại, thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và xin gi m nhẹ hình phạt nên đề nghị tuyên bố bị cáo Phúc không phạm tội của Người bào chữa là không có cơ sở để chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại thời điểm phạm tội bị cáo Tô Triệu Quang S, Nguyễn Thiên P chưa đủ 18 tuổi, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn, hối c i, bị cáo S và gia đình bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu qu cho bị hại. Các bị cáo thống nhất tiếp tục bồi thường số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) cho bị hại, bị hại có lỗi vì đã tấn công trước và gây thương tích cho bị cáo S, bị hại yêu cầu gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo Phúc thuộc gia đình người có công. Các bị cáo phạm tội có tình tiết tặng nặng là phạm tội đối với người dưới 16 tuổi. Do đó, các bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, điểm i kho n 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Các vật chứng gồm:
- 01 túi tennis màu đỏ - đen, dài 72 cm, bên ngoài có in chữ YONEX, bị thủng 01 lỗ dài 09 cm;
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 68,5 cm, rộng không đều lớn nhất 5 cm, phần cán dài 39,5 cm, lưỡi cong dài 29 cm;
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 76,5 cm, rộng không đều lớn nhất 7cm, phần cán dài 34 cm, phần lưỡi dài 42,5 cm.
- 01 cây liềm bằng kim loại, cán gỗ, dài 52 cm, rộng 2cm, mũi nhọn, phần cán dài 16 cm, phần lưỡi dài 36 cm.
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán bọc nhựa, dài 67,5 cm, rộng 4 cm, mũi nhọn, phần cán dài 22 cm, phần lưỡi dài 45,5 cm.
Những vật chứng trên các bị cáo đã sử dụng để gây thương tích cho bị hại, hiện tại cũng không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy là có cơ sở để chấp nhận.
Ghi nhận các bị cáo tự nguyện bồi thường 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) cho bị hại.
Về án phí: Các bị cáo ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c kho n 3 Điều 134; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, điểm i kho n 1 Điều 52, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Tô Triệu Quang Sphạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Tô Triệu Quang S 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 26/03/2021.
Căn cứ vào điểm c kho n 3 Điều 134; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51, điểm i kho n 1 Điều 52, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thiên P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thiên P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/01/2022.
3. Về Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 túi tennis màu đỏ - đen, dài 72 cm, bên ngoài có in chữ YONEX, bị thủng 01 lỗ dài 09 cm;
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 68,5 cm, rộng không đều lớn nhất 5 cm, phần cán dài 39,5 cm, lưỡi cong dài 29 cm;
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ dài 76,5 cm, rộng không đều lớn nhất 7cm, phần cán dài 34 cm, phần lưỡi dài 42,5 cm.
- 01 cây liềm bằng kim loại, cán gỗ, dài 52 cm, rộng 2cm, mũi nhọn, phần cán dài 16 cm, phần lưỡi dài 36 cm.
- 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán bọc nhựa, dài 67,5 cm, rộng 4 cm, mũi nhọn, phần cán dài 22 cm, phần lưỡi dài 45,5 cm.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo mỗi bị cáo ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo b n án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được niêm yết tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C gi i quyết theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND TP.C; - VKSND Q.K; - CA Q.K; - Chi cục THADS QK; - Sở Tư pháp TP.C; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò Nguyễn Thị NB |