- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn N - phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hai sức khoẻ của người khác (điều 108 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh.
- Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 158/2017/HSPT Ngày: 16/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Phượng
Các Thẩm phán:
Ông Trần Hữu Viên
Ông Nguyễn Tuấn Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảy Nhuận – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Bai – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 11 năm 2017, tạị Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 175/2017/TLPT-HS ngày 06/10/2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn N do có kháng cáo của người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2017/HS-ST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
* Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Thôn X, xã T, huyện D, tỉnh K; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã S, huyện D, tỉnh K; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Q (1948) và bà Nguyễn T (1958); vợ là Phạm Thị B; bị cáo có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
Người bị hại: Ông Thái Đặng S, sinh năm 1974; trú tại: Thôn T, xã S, huyện D, tỉnh K. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Thái Văn H (1952) và bà Ngô Thị N (1952); trú tại: Thô C, xã S, huyện L, tỉnh K. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 01/5/2016, Thái Đặng S, Bùi Duy T và Nguyễn R tổ chức ăn uống tại nhà ông R. Sau đó, S về nhà mình. Khi về đến nhà, thấy Nguyễn Văn N là hàng xóm (ở bên cạnh nhà) đang nằm trên võng trước hiên nhà nên S đi đến gọi N sang ăn uống. Do vợ ngăn cản nên N từ chối và giữa N với vợ có xảy ra kình cãi nên Sơn đi về nhà. Về đến nhà, S đứng sát nhà của N nói to “Mày đụng tao thì tao chơi luôn”. Cho rằng S nói mình nên N lấy 01 cây rựa đi đến nhà S. N tiến tới sát gần S (khoảng 01 mét) cầm rựa bằng cả hai tay đưa lên trên đầu của S và nói “Ông đòi chơi ai” nhưng S không nói gì mà chỉ bước lùi về phía sau. Lúc này được anh T can ngăn nên N quay về nhà. N ngồi trước hiên nhà thấy S đi qua đi lại ở phần sân tiếp giáp với sân nhà N và tiếp tục nói “Mày ngon đụng tao thì tao chơi luôn” và “Hai vợ chồng mày ở được thì ở, không thì biến đi chỗ khác”. N nghĩ S đang thách đố mình nên tiếp tục cầm rựa đi qua phần sân nhà S. Lúc này, S đứng quay lưng về phía sân nhà N còn N đứng đối diện với S (khoảng cách 01 mét). N dùng hai tay đưa rựa lên trên đầu chỉ về hướng của S với mục đích hăm dọa S, bước tới trước mặt S và nói “Ông đòi chơi ai”. S không nói gì mà chụp lấy cây gỗ vuông (dài khoảng 01 mét) để cạnh cửa, đưa lên trước mặt để phòng vệ. N bước tới áp sát người S, dùng lưỡi rựa gạt qua, gạt lại cây gỗ trên tay S và nói “Ông đòi chơi ai, ông làm gì mà đòi đuổi tôi”. Lúc này, S bước thụt lùi về hướng mép sân nhà N, N tiếp tục cầm rựa đưa lên phía trước mặt S và bước về phía trước dùng rựa gạt qua, gạt lại cây gỗ trên tay S để hù dọa nên S tiếp tục bước thụt lùi phía sau, do giữa sân nhà S và N chênh lệch nhau khoảng 0,6 mét nên S trật chân ngã xuống phần sân nhà N làm S bị chấn thương vùng cổ. Sau đó, S được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa. Ngày 04/11/2016, Thái Đặng S có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 228 ngày 18/01/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Thái Đặng S là 89%.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Diên Khánh, Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Bản án số 48/2017/HS-ST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 108; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù về tội “Vô ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 09/8/2017, người bị hại S và người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Ngô Thị N kháng cáo không đồng ý với tội danh mà bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vô ý gây thương tích”.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Bị cáo trình bày: Bị cáo chỉ cầm rựa nhá dọa anh S, chứ bị cáo không đạp anh S té ngã. Việc anh S bị té ngã và bị chấn thương là do lỗi của bị cáo, nhưng bị cáo không cố ý gây thương tích cho anh S.
Người bị hại (anh S) trình bày: Không đồng ý với bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo N về tội “Vô ý gây thương tích”.
Người đại diện hợp pháp người bị hại (ông H) trình bày: Tòa án huyện Diên Khánh xét xử bị cáo N về tội “Vô ý gây thương tích”, ông không đồng ý. Vì thực tế, bị cáo đã gây thương tích cho con ông (anh S), bị cáo đã 2 lần cầm rựa xông qua nhà con ông (anh S) dọa chém và xô xát với S, nên S mới bị té ngã và bị thương tích. Cho dù bị cáo chưa chém S, nhưng hành vi đó là hành vi cố ý gây thương tích chứ không phải là vô ý như cấp sơ thẩm đã xét xử.
Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của người bị hại và người đại diện hợp pháp người bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Vì hành vi phạm tội của bị cáo không phải là hành vi cố ý gây thương tích cho anh S. Mặc dù, tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng Đ khai có nhìn thấy bị cáo đạp người bị hại té ngã xuống sân nhà bị cáo. Nhưng lời khai của anh Đ lại mâu thuẫn với lời khai của người làm chứng anh Bùi Duy T và đã được Cơ quan điều tra tiến hành đối chất. Mặt khác, anh Đ lại là con ruột của người bị hại, nên lời khai của anh Đ là không đủ cơ sở để xem xét và đánh giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét h i, tranh lu n tại phiên tòa phúc thẩm; Hội đồng xét x nh n th y như sau:
* Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
* Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên xử. Bị cáo cho rằng: Do bực tức nghĩ rằng anh S chửi mình nên bị cáo đã cầm rựa đi qua sân nhà người bị hại, vung rựa lên vừa quơ qua, quơ lại vừa áp sát và tiến về phía người bị hại, trong lúc anh S đang cầm một cây gỗ trên tay đưa lên trước mặt. Khi bị cáo bước tới áp sát người anh S, dùng lưỡi rựa gạt qua, gạt lại cây gỗ trên tay anh S thì lúc này anh S bước thụt lùi về hướng mép sân nhà bị cáo N, rồi bị hụt chân té ngã.
Xét yêu cầu kháng cáo người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại; Hội đồng xét xử xét thấy:
Sau khi sự việc xảy ra, ngày 05/5/2016 tại Công an xã S, huyện D, bị cáo đã khai: “Trong lúc giằng co, ông S hụt chân rớt xuống sân và nằm tại chỗ. Tôi có xô đẩy với ông S chứ không có đạp...”(Bút lục 13).
Trong biên bản hỏi cung tại Cơ quan điều tra Công an huyện D ngày 12/8/2016, bị cáo khai: “Tôi cầm rựa quơ qua quơ lại nhưng không trúng, ông S cũng cầm cây gài c a quơ qua quơ lại…, hai người giằng co qua lại ông S lùi ra sau thì té từ trên b c thềm nhà ông S xuống nền đ t nhà tôi…” (Bút lục 15).
Theo đơn yêu cầu khởi tố vụ án ngày 04/11/2016 của người bị hại viết: “Ông N cầm một cây rựa đi qua nhà tôi, vung rựa lên hăm dọa, vừa áp sát vào người tôi, ép tôi, xô xát với tôi, làm tôi bị té ngã xuống sân nhà ông N…”.
Lời khai của người làm chứng anh Bùi Duy T tại công an xã S ngày 05/5/2016: “Tôi th y ông N quay về, nhưng ông S vẫn tiếp tục ch i nên ông N quay lại 1 lần nữa và 2 người xô xát lẫn nhau. Th y căng thẳng, tôi liền chạy qua thì th y ông S đã nằm b t động ở giữa ranh nhà ông S và nhà ông N…”. (Bút lục 77)
Như vậy, ngay từ lời khai ban đầu của bị cáo, người làm chứng và lời trình bày của người bị hại đã thể hiện có việc giằng co, xô xát xảy ra giữa bị cáo và người bị hại trước khi người bị hại bị té ngã. Nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ tình tiết này để xác định đây có phải là nguyên nhân trực tiếp tác động, làm cho người bị hại bị té ngã gây nên thương tích hay không.
Mặt khác, việc bị cáo 2 lần cầm rựa đi qua nhà người bị hại, vung rựa lên hăm dọa, tiến tới và áp sát vào người bị hại và dùng lưỡi rựa gạt qua, gạt lại cây gỗ trên tay người bị hại, làm người bị hại lui về phía sau và bị hụt chân té ngã. Những tình tiết khách quan này, cấp sơ thẩm cũng chưa xem xét và đánh giá để xác định ý thức chủ quan của bị cáo đối với hậu quả tội phạm xảy ra trong mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại giữa hành vi và hậu quả; trên cơ sở đó xác định đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Do những nội dung nói trên, chưa được làm rõ trong quá trình điều tra, nhưng cấp sơ thẩm không trả hồ sơ điều tra bổ sung để xác định đúng tội danh đối với bị cáo. Vì vậy, cần phải hủy bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại.
Vì các l trên;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 28/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh để điều tra lại.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - TAND huyện Diên Khánh; - Công an huyện Diên Khánh; - THADS huyện Diên Khánh; - Bị cáo; Lưu HS | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thúy Phượng |