vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điềù 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ giam ngày 17/01/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày: 29-7-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng

2. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Thiên Ân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/HSST-QĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T , sinh năm 1976. Giới tính: Nam (Bị cáo có mặt).

Nơi cư trú: ấp Đ , xã T , huyện T , tinh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; con ông Nguyễn Thanh H , sinh năm 1954 và bà Nguyễn Kim H , sinh năm 1954; vợ Nguyễn Thị Kim M , sinh năm 1978; con có 01 người con sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2022 chuyển sang tạm giam cho đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên

tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T là người nghiện ma túy, loại ma túy đá khoảng 02 năm. Vào ngày 15/01/2022, một người bạn của T tên là Hiếu không rõ lai lịch ở thành phố Hồ Chí Minh ghé nhà của T chơi. Tại đây, khi biết Hiếu có ma túy, T mua một bịch với số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng). Sau khi nhận được ma túy, T phân ra thành 11 bịch nylon hàn kín lại để dành sử dụng. T cất 10 bịch nylon chứa ma túy trong một hộp nhựa màu đen để ở sau bếp gần vị trí để nồi cơm điện, còn 01 bịch còn lại để ở trong ống đựng lược chải tóc màu đỏ treo ở lối đi vào nhà bếp. Sau đó, T cầm hộp nhựa chứa 10 bịch ma túy để trên bàn trang điểm của con gái Nguyễn Ngọc Bo B, sinh ngày 19/01/2007 ở nhà trước và dặn B trông giữ cái hộp ma túy trên rồi đi ra ngoài mua thức ăn. Trong lúc T đi ra ngoài, Công an xã T đến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Ngọc Bo B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do thời điểm trên chỉ có một mình B ở nhà và biết được cái hộp do T đưa trông giữ có chứa các bịch nylon đựng ma túy và tiến hành thu giữ 11 bịch nylon được hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma túy, 03 cái hộp quẹt, bình thủy tinh, thanh nỏ, 02 cây kéo, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và tiền Việt Nam 359.000 đồng (ba trăm năm mươi chín nghìn đồng).

Nguyễn Thanh T khai nhận trước đó đã mua trái phép chất ma túy của Võ Văn L , sinh năm 1988, trú tại: Khu phố Đ , thị trấn T , huyện T , được khoảng từ 07 đến 08 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Võ Văn L đã bị khởi tố về Tội mua bán trái phép chất ma túy trong vụ án khác. Cơ quan điều tra tiến hành hỏi cung, đối chất nhưng L không thừa nhận có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh T .

Nguyễn Ngọc Bo B thừa nhận bị Nguyễn Thanh T ép buộc bán trái phép chất ma túy cho những người tên An, Sinh, Vẹn. Kết quả điều tra đã xác định được Trần Văn A, Lê Quốc T (tên gọi khác là Sinh), Lương Văn Đ , Nguyễn Văn T khai nhận có mua ma túy của Nguyễn Thanh T . Trong đó, Đ mua ma túy của T một lần 02 bịch với số tiền 200.000 đồng nhưng trả bằng một cây mai do Đ lấy trộm được tại khu vực Kinh 8 thuộc huyện T vào ngày 18/01/2022. Nguyễn Văn T mua ma túy của T 10 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Trung mua ma túy của T và con gái T là Bo B bán tổng cộng 10 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. An mua ma túy của T từ 05 đến 06 lần, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất nhưng T không thừa nhận bản thân trực tiếp hoặc đưa ma túy cho Bo B bán trái phép cho những người trên mà chỉ thừa nhận có cho An, Trung góp tiền trước sau đó T mua ma túy của Võ Văn L đem về sử dụng chung 04 lần, mỗi lần từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng. Đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bị bắt quả tang, Nguyễn Thanh T mua và chia ra để dành sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, T còn khai nhận đã mua của Lương Văn Đ một cây mai vàng với giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng không biết nguồn gốc của cây mai từ đâu Đ có và không thừa nhận có hành vi bán trái ma túy cho Đ.

Nguyễn Ngọc Bo B thừa nhận nguồn ma túy Công an thu giữ là do T mua của Võ Văn L trước khi bị bắt khoảng 03 ngày. Từ tháng 4/2021 đến ngày bị bắt quả tang, dưới sự chỉ đạo của T , Bo B đã bán trái phép chất ma túy cho An, Vẹn, Sinh với số tiền mỗi lần từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng. Nếu Bo B không thực hiện thì bị đánh và bỏ đói không cho ăn cơm. Cơ quan điều tra đã tiến hành hỏi cung, đối chất với bị cáo Nguyễn Thanh T nhưng T không thừa nhận có hành vi ép buộc Bo B bán trái phép chất ma túy. T thừa nhận có mua ma túy của Võ Văn L trước khi bị bắt khoảng 03 ngày với số tiền 300.000 đồng nhưng đã sử dụng hết và có nhờ Bo B giao ma túy cho những người cùng góp tiền mua ma túy với T là Trần Văn A, Lê Quốc T và Vẹn (chưa rõ lai lịch) khoảng 04 lần nhưng không có bán trái phép chất ma túy cho những người này.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy vào ngày 17/01/2022, tại Công an huyện T thể hiện Nguyễn Thanh T dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thanh T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng.

Kết quả kiểm tra đối với điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen của Nguyễn Thanh T : Không có sim, không có lưu danh bạ, không có cuộc gọi đi, gọi đến và tin nhắn văn bản.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T , tỉnh Kiên Giang tiến hành trưng cầu giám định, để xác định loại, khối lượng của chất nghi là ma túy được thu giữ khi bắt quả tang và giám định dấu vết đường vân trên bịch ma túy thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 75/KL-KTHS ngày 24/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 11 (mười một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,8093 gam. (Trong đó gói 01 là 1,6957g; gói 02 là 0,1136g). Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 21 01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Trên 11 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín không có dấu vết đường vân.

Cáo trạng số 24/CT-VKSTH ngày 30/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine: Gói 01: Nhiều hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 1,6366 gam và gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 75/2022/Gói 01; Gói 02: Nhiều hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0706 gam và gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 75/2022/Gói 02; 01 (Một) thanh nỏ bằng thủy tinh chiều dài 16cm, một đầu có quấn băng keo màu đen; 01 (Một) thanh nỏ bằng thủy tinh có chiều dài 10cm; 01 (Một) bình thủy tinh có đáy hình vuông, cổ có niềng bằng kim loại, chiều cao 8,5cm có gắn một thanh nỏ bằng thủy tinh và một ống hút bằng nhựa là bộ để sử dụng ma túy; 03 (Ba) cái hộp quẹt. Trong đó, một cái màu vàng, một cái màu đỏ và một cái màu trắng; 02 (Hai) cây kéo bằng kim loại, chiều dài 10cm; 01 (một) cái rổ bằng nhựa màu đỏ, chiều ngang nơi lớn nhất là 09cm, cao 14cm; 01 (Một) hộp nhựa có nắp đậy màu đen cao 3,8cm, đường kính 02cm.

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 16/01/2022, Công an xã T tiến hành kiểm tra tại nhà của bị cáo Nguyễn Thanh T phát hiện bắt quả tang trong nhà của bị cáo T tàng trữ 10 (mười) bịch nylon chứa ma túy trong một hộp nhựa màu đen mà bị cáo T giao cho con gái là Nguyễn Ngọc Bo B, sinh ngày 19/01/2007 quản lý, trông giữ để ở trên bàn trang điểm và 01 (một) bịch nylon để ở trong ống đựng lược chải tóc màu đỏ treo ở khu vực lối đi vào nhà bếp, được hàn kín bên trong đều có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất qua giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,8093 gam. Bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 75/KL-KTHS ngày 24/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Nhiều hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 11 (mười một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 1,8093 gam

Từ những phân tích, đánh giá trên đã đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra cho thấy bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện đặc biệt nguy hiểm, tàn phá sức khỏe của người sử dụng và làm suy giảm giống nòi, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Dù không nhằm mục đích vụ lợi, nhưng vì muốn được thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật và hậu quả mua ma túy về tàng trữ sử dụng một cách trái pháp luật.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự nện bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine:

+ Gói 01: Nhiều hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 1,6366 gam và gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 75/2022/Gói 01;

+ Gói 02: Nhiều hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0706 gam và gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 75/2022/Gói 02;

+ 01 (Một) thanh nỏ bằng thủy tinh chiều dài 16cm, một đầu có quấn băng keo màu đen.

+ 01 (Một) thanh nỏ bằng thủy tinh có chiều dài 10cm.

+ 01 (Một) bình thủy tinh có đáy hình vuông, cổ có niềng bằng kim loại, chiều cao 8,5cm có gắn một thanh nỏ bằng thủy tinh và một ống hút bằng nhựa là bộ để sử dụng ma túy.

+ 03 (Ba) cái hộp quẹt. Trong đó, một cái màu vàng, một cái màu đỏ và một cái màu trắng.

+ 02 (Hai) cây kéo bằng kim loại, chiều dài 10cm.

+ 01 (một) cái rổ bằng nhựa màu đỏ, chiều ngang nơi lớn nhất là 09cm, cao 14cm.

+ 01 (Một) hộp nhựa có nắp đậy màu đen cao 3,8cm, đường kính 02cm.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Nguyễn Ngọc Bo B 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu đen, số Imei 868057057173495; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei 352892106299021; tiền Việt Nam 359.000 (ba trăm năm mươi chín nghìn đồng) do không liên quan đến vụ án là phù hợp.

Đối với lời khai của Lương Văn Đ , Nguyễn Văn T , Lê Quốc T , Trần Văn A có mua trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Thanh T ; Nguyễn Ngọc Bo B khai nhận bị T ép buộc bán trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đối chất để làm rõ nhưng bị cáo cũng không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy, cơ quan điều tra cũng không bắt quả tang bị cáo đang có hành vi bán trái phép chất ma túy. Do đó, không có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thanh T có hành vi phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Ngọc Bo B, theo lời khai của bị cáo có 04 lần đưa ma túy cho những người đã hùn tiền với bị cáo. Tuy nhiên, không thu giữ được để xác định được có phải là chất ma túy có khối lượng quy định theo Bộ luật hình sự hay không. Đồng thời, Nguyễn Ngọc Bo Bo thực hiện hành vi khi chưa đủ 16 tuổi. Trước đó, ngày 16/12/2021, Nguyễn Ngọc Bo B đã đến Công an xã T tố giác nên không xem xét xử lý.

Đối với lời khai của Lương Văn Đ về việc lấy trộm một cây mai vàng đem đến đổi lấy 02 bịch ma túy của bị cáo Nguyễn Thanh T đem về sử dụng. Bị cáo không thừa nhận có sự việc trên và hiện nay Đ đã bỏ địa phương đi, chưa xác định được người bị hại nên Cơ quan điều tra đã tách ra, xử lý trong vụ việc khác khi xác định được người bị hại.

Đối với Võ Văn L theo lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh T đã bán trái phép chất ma túy, L không thừa nhận. Hiện nay, L đã bị khởi tố trong vụ án khác nên không xử lý trong vụ án này.

Đối với người bạn tên Hiếu ở thành phố Hồ Chí Minh đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Thanh T . Qua lời khai của bị cáo đến nay vẫn không có đủ thông tin để tiến hành xác minh, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào có đủ thông tin để xác minh, tiến hành xử lý sau.

Đối với các thanh nỏ, bình thủy tinh mà bị cáo tàng trữ là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy do không đủ định lượng nên không xử lý về Tội tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điềù 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ giam ngày 17/01/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma tuý loại Methamphetamine: Gói 01: Nhiều hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 1,6366 gam và gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 75/2022/Gói 01; Gói 02: Nhiều hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0706 gam và gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 75/2022/Gói 02;

+ 01 (Một) thanh nỏ bằng thủy tinh chiều dài 16cm, một đầu có quấn băng keo màu đen.

+ 01 (Một) thanh nỏ bằng thủy tinh có chiều dài 10cm.

+ 01 (Một) bình thủy tinh có đáy hình vuông, cổ có niềng bằng kim loại, chiều cao 8,5cm có gắn một thanh nỏ bằng thủy tinh và một ống hút bằng nhựa là bộ để sử dụng ma túy.

+ 03 (Ba) cái hộp quẹt. Trong đó, một cái màu vàng, một cái màu đỏ và một cái màu trắng.

+ 02 (Hai) cây kéo bằng kim loại, chiều dài 10cm.

+ 01 (một) cái rổ bằng nhựa màu đỏ, chiều ngang nơi lớn nhất là 09cm, cao 14cm.

+ 01 (Một) hộp nhựa có nắp đậy màu đen cao 3,8cm, đường kính 02cm.

Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T , tỉnh Kiên Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKSTH ngày 30/5/2022.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ