- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn Kiên phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HS-ST Ngày 25 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mầu Văn Mùi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc và ông Lê Mạnh Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn La, Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Yên Dương, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn K, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; văn hóa: 7/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn C và bà Trần Thị H; có vợ là Trần Thị T và có 04 con; tiền án: Không; tiền sự: 01. Ngày 26/3/2021, Trần Văn K bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc” (đã nộp phạt ngày 19/11/2021); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2022 cho đến nay (có mặt).
Người làm chứng: Anh Trần Văn L, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Q, xã Y, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 23/2/2022, Trần Văn K đang chơi tại khu vực cổng nhà mình thì có Nguyễn Văn H (sinh năm 1992, ở tổ dân phố Tr, thị trấn Đ, huyện T) đến gặp và nói chuyện. Quá trình nói chuyện, Huy biết K có gói ma túy, Huy hỏi mua. Do sẵn có gói ma túy mang theo bên người chưa sử dụng đến nên K đồng ý và bảo Huy giá 300.000đ. Huy đồng ý rồi lấy từ trong người ra số tiền 300.000đ (gồm: 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ và 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ) đưa cho K, K cầm tiền Huy đưa bằng tay trái đồng thời tay phải lấy ra 01 gói ma túy trong túi quần bên phải phía trước đang mặc ra đưa cho Huy, Huy chưa kịp cầm thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay phải của K 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng (K khai nhận đây là gói ma túy K đang bán cho H thì bị bắt), vật chứng được niêm phong theo đúng quy định ký hiệu M1. Thu tại lòng bàn tay trái của K số tiền 300.000đ (K khai nhận đây là tiền K vừa bán gói ma túy cho H mà có).
Tại kết luận giám định số: 497/KL-KTHS ngày 26/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:“Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0864g, loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định còn lại sau giám định gồm: 0.0401 gam mẫu và toàn bộ bao gói”.
Về nguồn gốc ma túy, K khai nhận: Chiều ngày 23/02/2022, K một mình đi nhờ xe máy của một người đàn ông đi đường không quen biết đến khu vực ngã ba thôn Vĩnh Ninh, xã Đạo Trù, huyện T và mua được của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (K không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ.
Tại Cáo trạng số: 30/CT-VKSTĐ ngày 28/4/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Trần Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt Trần Văn K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 23/02/2022, tại thôn, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trần Văn K đang có hành vi bán trái phép chất ma túy (hêrôin) có khối lượng 0,0864g với giá 300.000đ cho đối tượng tự khai là Nguyễn Văn H thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe nhưng không rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà để kiếm lời bị cáo lại lao vào con đường phạm tội.
Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy. Bị cáo trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, ngày 26/3/2021 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với đối tượng tự khai tên Nguyễn Văn Huy là người hỏi mua ma túy của bị cáo. Sau khi bị bắt quả tang, lợi dụng sơ hở Huy đã bỏ trốn. Qua điều tra, xác minh tại thị trấn Đ, huyện T không có người nào tên là H có nhân thân, lai lịch như đối tượng tự khai. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 300.000đ thu giữ của bị cáo là tiền do bị cáo bán ma túy mà có nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Đối với mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/02/2022).
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Trần Văn K.
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại, gồm: 0.0401g mẫu và toàn bộ bao gói.
(Có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2022)
4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Trại TGCA tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Mầu Văn Mùi |