vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 15/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/6/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ CỪ
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày 15 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đình Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Sỹ Thái và và ông Bùi Đăng Ban;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (điểm cầu trung tâm) xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngµy18/8/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST-HS ngày 31/8/2022 đối với bị cáo (điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên):

Nguyễn Duy N, sinh năm 1957; nơi sinh và đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ1, huyện P1, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/10 (tại phiên tòa bị cáo khai lớp 7/10); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ2; có vợ đã ly hôn (tại phiên tòa bị cáo khai là Nguyễn Thị H) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/01/2000 bị Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng phạt tiền về hành vi đánh bạc; tạm giữ ngày 09/6/2022; tạm giam ngày 18/6/2022; bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên “có mặt tại phòng xét xử trực tuyến”.

- Người chứng kiến: Ông Ngô Đức T, sinh năm 1970,

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ1, huyện P, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 09/6/2022, tổ công tác của Công an huyện Phù Cừ và Công an xã Đình Cao, huyện Phù Cừ thực hiện tuần tra trên đoạn đường thuộc thôn Đình Cao, xã Đình Cao, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 01 người đàn ông đang đi bộ có nhiều biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông trên tự khai là Nguyễn Duy N, sinh năm 1957, trú tại thôn Đ, xã Đ1, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Duy N tự nguyện giao nộp từ trong lòng bàn tay phải 01 gói giấy bạc có kích thước (1 x 1,5)cm, bên trong có chứa chất bột và cục màu trắng, N khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của N mang theo để sử dụng cho cá nhân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng 01 gói giấy bạc chứa chất dạng bột và cục màu trắng thu của Nguyễn Duy N trong phong bì thư dán kín, ghi ký hiệu M1.

Cùng ngày, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy N tại thôn Đ, xã Đ1, huyện P không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 247/KL-KTHS ngày 12/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Chất dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1 (thu giữ của Nguyễn Duy N), có khối lượng là 0,207 gam, là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại 0,202 gam Heroine mẫu giám định trong niêm phong ghi ký hiệu M1.

Kết quả điều tra Nguyễn Duy N khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, N đi bộ từ nhà của mình tại thôn Đ, xã Đ1, huyện P đến cánh đồng vắng người để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến một cánh đồng cũng thuộc thôn Đ, xã Đ1 N quan sát thấy một nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này đang đứng ở cánh đồng vắng, giáp đường. N đi lại gần người này và hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì người thanh niên này đồng ý và đưa cho N 01 gói giấy bạc kích thước khoảng (1 x 1,5)cm, bên trong có chứa chất ma túy là Heroine. Sau khi nhận gói ma túy, N đưa trả cho nam thanh niên này số tiền 200.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Duy N cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay phải và đi bộ về nhà sử dụng. Lúc này, người thanh niên bán ma túy cho N đi đâu thì N không biết, khi N đi về gần đến nhà ở của mình thì bị lực lượng Công an huyện Phù Cừ phát hiện kiểm tra. Do nhận thức được hành vi của mình là sai phạm, nên N đã tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an gói ma túy trên.

Về đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Duy N, do N không biết tên tuổi, địa chỉ, lai lịch của người này mà chỉ mô tả được vài đặc điểm nhận dạng đơn giản. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã Đình Cao, tuy nhiên không xác định được cụ thể đối tượng này là ai. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKSPC ngày 18/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên truy tố Nguyễn Duy N về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố hành vi phạm tội của bị cáo N theo nội dung cáo trạng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; vật chứng: Tịch thu mẫu vật là ma túy do cơ quan giám định hoàn lại, cho tiêu hủy. Bị cáo N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Duy N nhận tội, khai báo thành khẩn diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với hành vi của N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ truy tố theo nội dung cáo trạng. Bị cáo Nguyễn Duy N đã nhận thức rõ sai phạm của bản thân, có thái độ hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, tuổi cũng đã nhiều và đang phải nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ đẻ năm nay đã 97 tuổi già yếu, để phạt bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Cừ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng, đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

. Lời khai nhận tội của Nguyễn Duy N tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trước cơ quan điều tra, đồng thời phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Duy N là 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất dạng bột và cục màu trắng, N khai nhận là ma túy Heroine của N mua về để sử dụng cho bản thân và phù hợp kết luận giám định vật chứng là chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1 thu giữ của N, có khối lượng 0,207 gam, là ma túy, loại Heroine; phù hợp lời khai của ông Nguyễn Đức T là người chứng kiến khi Nguyễn Duy N bị kiểm tra bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 09/6/2022, tại đường thôn Đình Cao, xã Đình Cao, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; bị cáo Nguyễn Duy N đang có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,207 gam chất ma túy là Heroine, mục đích để sử dụng cho cá nhân thì bị Công an huyện Phù Cừ phát hiện kiểm tra bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Bị cáo Nguyễn Duy N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo N thực hiện như phân tích đã có đủ dấu hiệu cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên truy tố Nguyễn Duy N về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là chính xác, có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

. Xét hành vi phạm tội của Nguyễn Duy N là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma túy và các chất gây nghiện. Bản thân bị cáo N là người nghiện chất ma túy, biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe, trí tuệ của con người, gây thiệt hại về kinh tế và là một trong các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm khác. Bị cáo sử dụng ma túy để thỏa mãn ham muốn cá nhân dẫn đến phạm tội, đồng thời còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo gây ra và cần cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Duy N phạm tội bị bắt quả tang, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều nhận tội, khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải về sai phạm của minh; bản thân bị cáo hiện tại tuổi cũng đã cao (65 tuổi), hoàn cảnh khó khăn đang sinh sống và phải nuôi dưỡng, chăm sóc một mẹ già đã 97 tuổi già yếu, nên Nguyễn Duy N được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Duy N đã quá tuổi lao động, là người nghiện ma túy, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

. Biện pháp tư pháp:

- Mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại trong niêm phong là chất ma túy Nhà nước cấm, nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy N là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 09/6/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo N.

Biện pháp tư pháp:

- Tịch thu toàn bộ số ma túy do cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật giám định trong phong bì thư được niêm phong kín, ghi số: 247/KL-KHHS, cho tiêu hủy.

(Chi tiết về số lượng, chất lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2022 giữa Công an huyện Phù Cừ và Chi cục án dân sự huyện Phù Cừ).

Án phí: Bị cáo Nguyễn Duy N phải chịu 200.000đ, (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bản án sơ thẩm xét xử trực tuyến công khai có mặt bị cáo, đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ