vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 25/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nông Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nông Văn P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30-8-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn Phong - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ QUẢNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày 25-11-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Chí Cốt

Bà Tô Thị Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25-11-2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 27-10-2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 14-11-2022 đối với bị cáo:

Nông Văn P (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 17 tháng 3 năm 1993 tại xã Ngọc Đào, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng (nơi cư trú cũng là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn M, sinh năm 1970 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1969; Có vợ là Hoàng Thị N, sinh năm 1993, con: Bị cáo có 02 con, con thứ nhất sinh năm 2014, con thứ hai sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Xấu (ngày 16-10-2015 Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình phạt tiền về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30-8-2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nông Văn M, sinh năm 1970; nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ 00 phút, ngày 30-8-2022 tổ công tác Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng đang làm nhiệm vụ tại xóm C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang Nông Văn P sinh năm 1993, trú tại Xóm C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra người Nông Văn P phát hiện túi quần đằng trước bên phải P đang mặc có 01 (một) khẩu trang kẻ ca rô màu xanh trắng, bên trong lớp vải lót màu trắng mặt trong của khẩu trang có 01 (một) gói giấy bạc bao thuốc lá màu vàng, mở gói giấy bạc ra thấy bên trong có 03 (ba) gói nhỏ gói bằng giấy màu vàng, mở cả 03 (ba) gói giấy nhỏ ra thấy bên trong cùng mỗi gói đều chứa các cục vụn, bột màu trắng. Cơ quan chức năng đã tiến hành niêm phong số chất bột trên theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn tiến hành thu giữ đối với Nông Văn P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI màu đen đỏ, đã qua sử dụng biển kiểm soát 11F7 - 9802 (kèm chìa khóa xe); 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0014809 mang tên Đàm Văn T; 01 (một) chiếc khẩu trang kẻ ca rô màu xanh trắng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Nông Văn P khai nhận: Bản thân P là người sử dụng trái phép chất ma túy nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 30-8-2022 P một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI biển kiểm soát 11F7 - 9802 của Bố (Nông Văn M) từ nhà P thuộc xóm C, xã Đ, huyện Q đi ra khu vực bến xe cũ thuộc phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng để tìm mua Heroine. Khi đến nơi P hỏi 01 (một) người đàn ông lái xe ôm (không biết họ tên, địa chỉ, số điện thoại cụ thể) bán ma túy cho, người đàn ông này đồng ý nên P đã đưa tiền cho 200.000 đồng. Sau khi nhận được tiền người đàn ông đưa cho P 01 (một) chiếc khẩu trang kẻ ca rô màu xanh trắng, P cất chiếc khẩu trang này vào túi quần đằng trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi về đến xóm C, xã Đ, huyện Q thì bị tổ công tác Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang.

Ngày 30-8-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng phối hợp với các thành phần chức năng mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng vụ án và lấy mẫu gửi giám định. Kết quả: Toàn bộ số các cục vụn, bột màu trắng trong 03 (ba) gói giấy màu vàng của Nông Văn P có tổng khối lượng tịnh là 0,15g (không phẩy mười năm gam).

Ngày 30-8-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ra Quyết định trưng cầu giám định số 36/QĐ-CQCSĐT để trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng giám định mẫu vật thu giữ được của Nông Văn P qua bắt quả tang vào ngày 30-8-2022.

Tại Kết luận giám định số 252/KL-KTHS ngày 07-9-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nông Văn M trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI màu đen đỏ, đã qua sử dụng biển kiểm soát 11F7 - 9802 là chiếc xe Ông mua lại với Đàm Văn T trú tại xóm Nà Rị, xã Nam Tuấn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng với giá 10.000.000 đồng. Chiếc xe mô tô do Ông sở hữu và quản lý. Việc Nông Văn P dùng chiếc xe mô tô đi mua ma túy ông M hoàn toàn không biết. Nay ông M yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô nói trên.

Tại bản Cáo trạng số: 30/CT-VKSHQ ngày 25-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố bị can Nông Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nông Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn P từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người sử dụng ma túy, thu nhập không ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng, tài sản cụ thể như sau:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong “Vật chứng thu giữ của Nông Văn P, bắt ngày 30-8-2022”.

+ 01 (một) chiếc khẩu trang kẻ ca rô màu xanh trắng.

- Trả lại cho ông Nông Văn M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI màu đen đỏ, đã qua sử dụng biển kiểm soát 11F7 - 9802, số khung: 070104530, số máy: 104530, xe cũ đã qua sử dụng (kèm chìa khóa xe) và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0014809 mang tên Đàm Văn T.

Trách nhiệm dân sự: Không phát sinh trách nhiệm dân sự.

Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nông Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng. Tại phần tranh luận bị cáo Nông Văn P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nông Văn M không có ý kiến tranh luận và nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng, bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định, vật chứng của vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận: Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 30-8-2022 Nông Văn P điều khiển xe mô tô của Bố (Nông Văn M) đi từ nhà ở thuộc xóm C, xã Đ, huyện Q ra khu vực bến xe cũ thuộc phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng mua ma túy với một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ, số điện thoại cụ thể) với số tiền 200.000 đồng. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đưa cho P 01 (một) chiếc khẩu trang kẻ ca rô màu xanh trắng, P cất chiếc khẩu trang này vào túi quần đằng trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi về đến xóm C, xã Đ, huyện Q thì bị tổ công tác Công an huyện Hà Quảng kiểm tra và bắt quả tang. Số ma túy thu được qua bắt quả tang là 0,15g (không phẩy mười năm gam) với kết quả giám định là ma túy, loại “Heroine” (Bản kết luận giám định số 252/KL-KTHS ngày 07-9-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng). Đây là những chứng cứ xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra là đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, nhận thức được những tác hại nguy hiểm của ma túy đối với sức khỏe con người, đối với cộng đồng xã hội và việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật. Nhà nước nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc đối với mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo đã xem thường pháp luật, đã tàng trữ trái phép chất ma túy bất chấp hậu quả. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng đã đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy đang ngày càng diễn biến phức tạp, làm tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nông Văn P sinh ra và lớn lên tại Xóm C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo có sức khỏe, được sống trong môi trường xã hội lành mạnh nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện lại dấn thân vào con đường phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu (ngày 16-10-2015 Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình phạt tiền về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác). Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trước Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.

Với tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và quy định của pháp luật hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ sức răn đe, đồng thời làm gương cho người khác, phục vụ công tác phòng, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương. Xét đề nghị áp dụng pháp luật và ra mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử lý như sau:

- Chất ma túy thu được của bị cáo (được niêm phong theo quy định), kết quả giám định là Heroine, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy;

- 01 (một) chiếc khẩu trang kẻ ca rô màu xanh trắng, xét thấy không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu SUZUKI màu đen đỏ, đã qua sử dụng biển kiểm soát 11F7 – 9802 quá trình điều tra và tại phiên tòa, ông Nông Văn M trình bày: Chiếc xe mô tô này là do Ông mua lại với Đàm Văn T trú tại xóm Nà Rị, xã Nam Tuấn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng với giá 10.000.000 đồng. Chiếc xe thuộc quyền sở hữu và quản lý của ông M. Việc Nông Văn P dùng chiếc xe mô tô đi mua ma túy ông M hoàn toàn không biết. Tại phiên tòa, ông M yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô. Xét thấy, lời khai của bị cáo và ông M là có căn cứ, do đó cần trả lại cho ông M chiếc xe mô tô nói trên (kèm 01 chìa khóa xe).

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nông Văn P tại khu vực bến xe cũ phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Do không biết họ tên, địa chỉ cụ thể cũng như đặc điểm nhận dạng nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng không đủ thông tin để tiến hành điều tra, xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nông Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nông Văn P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30-8-2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng thu giữ của Nông Văn P, bắt ngày 30-8-2022”. Mặt sau, có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng.

+ 01 (một) chiếc khẩu trang kẻ ca rô màu xanh trắng.

- Trả lại cho ông Nông Văn M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI màu đen đỏ, đã qua sử dụng biển kiểm soát 11F7 - 9802, số khung: 070104530, số máy: 104530, xe cũ đã qua sử dụng (kèm chìa khóa xe, yên xe bị rách, xe không có gương chiếu hậu, yếm hai bên bị vỡ, nát) và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0014809 mang tên Đàm Văn T.

Xác nhận:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã chuyển vật chứng, tài sản trên sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Quảng tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27-10-2022.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nông Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) nộp vào Ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ