vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Bảo Th số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thùy V số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trần Bảo Th cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày: 31-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Mậu Thế

2/ Bà Đinh Thị Phúc

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thành Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 49/2022/TB-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Trần Bảo Th; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28/8/1985 tại: Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Số 26, tổ 34, thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con ông: Trần Văn Hiếu (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Nga, Sinh năm 1955; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con út trong gia đình, lớn nhất sinh năm 1974; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2021 đến ngày 08/7/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại, hiện đang được tại ngoại. Có mặt

2. Họ tên: Hoàng Thị Thùy V. Giới tính: Nữ; Sinh ngày 28/12/1991, tại: Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Tổ 3, thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con ông: Hoàng Diễm An, Sinh năm: 1965; Con bà: Phạm Thị Hòa, Sinh năm; 1964; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1998; Chồng: Nguyễn Th Hùng, Sinh năm 1984; Con: có 01 con sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2021 đến ngày 08/7/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại, hiện đang được tại ngoại. Có mặt

3. Họ tên: Phan Th V, Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/9/1991 tại: Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; nơi ĐKNKTT: 71/51/28B Đào Tông Nguyên, thị trấn Nh B, huyện Nh B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 17/3 thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con ông: Phan Th Nguyên, sinh năm 1968; Con bà: Nguyễn Thị Huyền, sinh năm 1970; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1999; Vợ: Phạm Thị Tuyết Đan, sinh năm 1993. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2021 đến ngày 08/7/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại, hiện đang được tại ngoại. Có mặt

4. Họ tên: Phạm Văn Th; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/10/1983 tại: Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Số 26, tổ 34, thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con ông: Phạm Thao, Sinh năm 1957; Con bà: Nguyễn Thị Ngữ (đã chết); Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1997; Vợ: Trần Thị Mỹ Hoàng, Sinh năm 1983; Con: có 02 con lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2021 đến ngày 08/7/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại, hiện đang được tại ngoại. Có mặt

5. Họ tên: Phạm Thị Ái S, Giới tính: Nữ; Sinh ngày 05/03/1981 tại: Quảng Ngãi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: làm nông; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Số nhà 12/4, thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con ông: Phạm Tùng, sinh năm 1953; Con bà: Võ Thị Sương, sinh năm 1958; Anh chị em có 04 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình, lớn nhất sinh năm 1980 nhỏ nhất sinh năm 1993; Chồng: Nguyễn Văn Toàn, SN: 1983; Con: có 02 con lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2021 đến ngày 08/7/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại, hiện đang được tại ngoại. Có mặt

6. Họ tên: Nguyễn Nhật Tr, Giới tính: Nam, Tên gọi khác: Điền; Sinh ngày 23/10/1979, tại: Quảng Ngãi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: làm nông; Nơi đăng ký HKTT và cư trú: Tổ 2, thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Con ông: Nguyễn Văn Tám, sinh năm 1952; Con bà: Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1959; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1999; Vợ: Trần Thị Oanh, sinh năm 1985; Con: có 02 con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Ngày 28/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt số tiền 30.000.000đ về tội Đánh bạc theo bản án số 48/2017/HSST (bị cáo chấp hành ngày 04/01/2022); Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang được tại ngoại. Có mặt

* Người làm chứng:

- Ông Trần Đình D, sinh năm 1985

Trú tại: Tổ 1, thôn Bồng Lai, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Trần Ngọc S, sinh năm 1987

Trú tại: Số nhà 16/32, thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13h ngày 06/7/2021, Trần Bảo Th nảy sinh ý định đến nhà Hoàng Thị Thùy V tại tổ 3, thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ để rủ những người coi hoa lan đánh bạc bằng hình thức xóc bầu cua. Th chuẩn bị 02 bộ bầu cua, đĩa và thau cùng số tiền 3.000.000 đồng đến nhà V. Khi đến thì V đồng ý cho Th mượn địa điểm là nhà trồng hoa lan của nhà V để đánh bạc, sau khi đánh bạc Th sẽ trả cho V 300.000 đồng. Th vào nhà lan và rủ S, V, Th, An, Lệ cùng nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua, Th là người trực tiếp xóc bầu cua, làm cái ăn thua và chung chi cho các con bạc số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi người/1 lần đặt cược. Các con bạc ăn thua đến khoảng 18 giờ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.500.000 đồng, đồng thời thu giữ trong người các đối tượng tổng số tiền 10.700.000 đồng. (An, Lệ và Điền bỏ chạy được). Các đối tượng đã khai nhận toàn bộ số tiền thu giữ trong người đều sử dụng với mục đích đánh bạc.

Đối với Hoàng Thị Thùy V (chủ nhà) khai nhận việc đồng ý cho Th mượn địa điểm là nhà trồng lan tại nhà V ở địa chỉ thôn Phi Nôm, xã H Th, huyện Đ để Th thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bầu cua ăn thua bằng tiền và V sẽ thu lợi 300.000đ sau khi kết thúc việc đánh bạc. Trước đó V đã cho Th mượn địa điểm nhà lan của mình để các đối tượng xóc bầu cua 02 lần và thu lợi 600.000đ. Vào ngày 06/7/2021 V chưa thu lợi từ việc cho Th mượn địa điểm nhà lan của mình để các đối tượng xóc bầu cua thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.

Ngày 08/07/2021 tại Cơ quan cảnh sát điều tra Nguyễn Nhật Tr (Điền) đã khai nhận toàn bộ hành vi tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua cùng các đối tượng Th, S, V, Th tại nhà Hoàng Thị Thùy V ngày 06/07/2021. Số tiền Tr sử dụng đánh bạc là 1.000.000 đồng, Tr tham gia đánh bạc từ 15h30 tới 18h cùng ngày, khi lực lượng Công an bắt quả tang thì Tr bỏ chạy và cầm theo 300.000 đồng.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 (một) bộ bầu cua đã qua sử dụng, 01 (một) bộ bầu cua chưa qua sử dụng.

- 01 (một) dĩa nhôm hình tròn, 01 (một) vật hình trụ tròn dán băng keo đen.

Số tang vật trên hiện đang được tạm gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.

- Tiền tang thu giữ trên sòng bạc 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

- Thu giữ tiền trong người của các đối tượng: Trần Bảo Th: 2.700.000 đồng, Phan Th V: 4.400.000 đồng, Phạm Văn Th: 2.700.000 đồng, Phạm Thị Ái S: 900.000 đồng, Nguyễn Nhật Tr khi bỏ chạy mang theo 300.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền các đối tượng Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr dùng để đánh bạc là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Hoàng Thị Thùy V đã tự nguyện giao nộp số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính từ việc đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 10/CT - VKS ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử đối với các bị cáo: Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Trần Bảo Th 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S mỗi bị cáo từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thùy V từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Tr từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập từ 1.000.000đ đến 1.500.000đ mỗi tháng và phạt bổ sung từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng để sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Vào khoảng 13h ngày 06/7/2021, bị cáo Trần Bảo Th nảy sinh ý định đến nhà Hoàng Thị Thùy V để rủ những người coi hoa lan đánh bạc bằng hình thức xóc bầu cua. Bị cáo Th chuẩn bị 02 bộ bầu cua, đĩa và thau cùng số tiền 3.000.000 đồng đến nhà V. Khi đến thì V đồng ý cho Th mượn địa điểm là nhà trồng hoa lan của nhà V để đánh bạc, sau khi đánh bạc Th sẽ trả cho V 300.000 đồng. Th vào nhà lan và rủ Phạm Thị Ái S, Phan Th V, Phạm Văn Th, An, Điền cùng nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua, Th là người trực tiếp xóc bầu cua, làm cái ăn thua và chung chi cho các con bạc số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi người/1 lần đặt cược. Các con bạc ăn thua đến khoảng 18 giờ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.500.000 đồng, đồng thời thu giữ trong người các đối tượng tổng số tiền 10.700.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Nhật Tr bỏ chạy được và cầm theo số tiền 300.000đ, đến ngày 08/7/2021 bị cáo Tr ra Công an huyện Đ để đầu thú. Còn các đối tượng tên An, Lệ bỏ chạy được, quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch. Như vậy, tổng số tiền chứng minh được các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).

Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có sức khỏe, có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc là tệ nạn xã hội, sẽ làm phát sinh ra các tệ nạn xã hội khác và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lười lao động và muốn thu lợi nhanh chóng nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự xem thường pháp luật, hành vi của các bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm giảm hiệu lực quản lý trật tự xã hội của nhà nước.

Về vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án:

- Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là sòng bạc tự phát, các bị cáo không có sự thống nhất, bàn bạc từ trước nên cần xác định vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong vụ án bị cáo Th là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ, phương tiện để đánh bạc nên bị cáo Th có vai trò chính và phải chịu trách nhiệm cao nhất trong vụ án. Các bị cáo Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S và Nguyễn Nhật Tr cùng tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền nên các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án và phải chịu trách nhiệm hình sự cao thứ hai trong vụ án sau bị cáo Trần Bảo Th. Còn bị cáo Hoàng Thị Thùy V mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng bị cáo là chủ nhà và đồng ý cho các bị cáo sử dụng địa điểm là nhà mình để đánh bạc nhằm thu lợi bất chính nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm về tội đánh bạc.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Nhật Tr phạm tội khi đang có tiền án, cụ thể: Ngày 28/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt số tiền 30.000.000đ về tội Đánh bạc theo bản án số 48/2017/HSST của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo khi lượng hình. Các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là phù hợp. Riêng bị cáo Nguyễn Nhật Tr trong thời gian được tại ngoại bị cáo đã cung cấp những trông tin có ích giúp Công an huyện Đ triệt phá sòng bạc diễn ra ngày 15/3/2022 nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Từ những phân tích nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Còn bị cáo Nguyễn Nhật Tr có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật và cần phải khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng của bị cáo số tiền 250.000đ/tháng tương ứng với thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Do các bị cáo là dân lao động, đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ gồm:

- Đối với 01 (một) bộ bầu cua đã qua sử dụng, 01 (một) bộ bầu cua chưa qua sử dụng, 01 (một) dĩa nhôm hình tròn, 01 (một) vật hình trụ tròn dán băng keo đen đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền thu giữ thu giữ trên sòng bạc 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và số tiền thu giữ tiền trong người của các đối tượng: Trần Bảo Th 2.700.000 đồng, Phan Th V: 4.400.000 đồng, Phạm Văn Th: 2.700.000 đồng, Phạm Thị Ái S: 900.000 đồng, Nguyễn Nhật Tr khi bỏ chạy mang theo 300.000 đồng và bị cáo Hoàng Thị Thùy V tự nguyện giao nộp số tiền 600.000đ thu lợi bất chính. Xét thấy toàn bộ số tiền này các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr mỗi bị cáo phải chịu án 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V.

Xử phạt bị cáo Trần Bảo Th số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thùy V số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Phan Th V số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Th số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ái S số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 36; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật Tr 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ thu nhập trong thời gian bị cáo Tr chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là 250.000đ/tháng tương ứng với thời gian cải tạo không giam giữ là 15 (mười lăm) tháng để sung công quỹ Nhà nước.

Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Giao bị cáo Nguyễn Nhật Tr cho Ủy ban nhân dân xã Phú Hội, huyện Đ, giám sát, giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bầu cua đã qua sử dụng, 01 (một) bộ bầu cua chưa qua sử dụng, 01 (một) dĩa nhôm hình tròn, 01 (một) vật hình trụ tròn dán băng keo đen đây.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 13.100.000đ (mười ba triệu một trăm ngàn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1096549.00000 lập ngày 19/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Trần Bảo Th, Phan Th V, Phạm Văn Th, Phạm Thị Ái S, Hoàng Thị Thùy V và Nguyễn Nhật Tr mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo. để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ