vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Vũ Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’.

Xử phạt: Bị cáo Lê Vũ Th 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Vũ Th UBND xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Vũ Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày 22/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thìn

Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa:

+ Tại điểm cầu Trung tâm: Bà Lê Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

+ Tại điểm cầu Thành phần: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn tham gia phiên tòa:

+ Tại điểm cầu Trung tâm: Ông Lê Xuân Thu - Kiểm sát viên.

+ Tại điểm cầu Thành phần: Ông Lê Quý Hưng – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (điểm cầu trung tâm), Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (điểm cầu thành phần), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Vũ Th, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Ch, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Vũ S, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1964; vợ Lê Thị H, sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”.

Bị hại: Anh Trịnh Hữu M, sinh năm 1990 Địa chỉ: Số nhà A phố Tân phong, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị H, sinh năm 1991 (Có đơn xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Ch, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 21/01/2022, Lê Vũ Th (có giấy phép lái xe hạng B2), sinh năm 1992 ở thôn Ch, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe ô tô BKS: 36D-014.65 đi từ nhà đến cây xăng ở thôn Hoàng Học, xã Đông Hoàng để đổ xăng. Khi Th điều khiển xe đi đến khu vực ngã ba thuộc thôn Hoàng Học, xã Đông Hoàng thì nhìn thấy phía trước có xe ô tô BKS: 36A-228.78 do anh Trịnh Hữu M, sinh năm 1990, ở thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn đang điều khiển đi từ hướng TP. Thanh Hóa về huyện Triệu Sơn (ngược với hướng đi của Th) cách xe ô tô mà Th đang điều khiển khoảng 80m. Lúc này, Th nghĩ xe ô tô do anh M điều khiển sẽ không kịp đi đến nên Th điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái để đi sang đường tỉnh lộ 515B. Tuy nhiên, khi Th đang điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái thì xe ô tô do anh M điều khiển đi tới và đâm va vào xe ô tô do Th điều khiển. Hậu quả, hai xe ô tô bị hư hỏng, Lê Vũ Th bị thương tích nhẹ.

Ngày 24/01/2022, Công an huyện Đông Sơn đã trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh Thanh Hóa khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông là xe ô tô BKS 36D-014.65 và xe ô tô BKS 36A-228.78. Tại Công văn số 165/CV-PC09 ngày 28/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận như sau:

1. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước đầu xe ô tô BKS 36A-228.78 với mặt trước ngoài bên phải đầu xe ô tô BKS 36D-014.65.

2. Tại thời điểm va chạm, xe ô tô BKS: 36D-014.65 chuyển động ngược chiều chếch từ trái sang phải so với hướng chuyển động của xe ô tô BKS 36A-228.78.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm nằm tại vùng đám nhựa vỡ, được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo hướng từ thành phố Thanh Hóa đi huyện Triệu Sơn.

4. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện.

Ngày 06/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Sơn đã ra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Sơn định giá giá trị tài sản thiệt hại đối với xe ô tô BKS: 36D- 014.65 và xe ô tô 36A-228.78.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HDĐGTS ngày 26/4/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đông Sơn kết luận tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô BKS: 36D-014.65 tại thời điểm tháng 01/2022 là 77.935.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HDĐGTS ngày 26/4/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đông Sơn kết luận tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe ô tô BKS: 36A-228.78 tại thời điểm tháng 01/2022 là 131.831.280 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm tám mươi đồng).

Quá trình điều tra, bị cáo Lê Vũ Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Công an đã tạm giữ các phương tiện liên quan là chiếc xe ô tô BKS: 36A-228.78 và chiếc xe ô tô BKS: 36D-014.65. Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu của chiếc xe ô tô BKS: 36A-228.78 là anh Trịnh Hữu M; chủ sở hữu của chiếc xe ô tô BKS: 36D-014.65 là chị Lê Thị H sinh năm 1991, ở thôn Ch, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn (vợ của bị cáo Th). Ngày 27/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả lại chiếc xe ô tô BKS: 36A-228.78 cho anh M và trả lại chiếc xe ô tô BKS: 36D-014.65 cho chị H.

Về bồi thường dân sự: Bị cáo Th và anh M đã tự nguyện thống nhất thỏa thuận với nhau, Th phải bồi thường cho anh Trịnh Hữu M tổng số tiền là 80.000.000đ. Th đã bồi thường cho anh M được 40.000.000đ, anh M yêu cầu Th phải tiếp tục bồi thường cho anh M 40.000.000đ còn lại. Ngoài ra, anh M không có yêu cầu gì thêm.

Về việc thương tích: Do chỉ bị thương tích nhẹ nên Th không yêu cầu đi giám định tổn hại phần trăm sức khỏe và cũng không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 30/Ctr-VKS ngày 29/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Vũ Th về tội ‘’Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’ theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa :

- Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Áp dụng: Điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Vũ Th từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo Th và anh M đã tự nguyện thống nhất thỏa thuận với nhau, Th phải bồi thường cho anh Trịnh Hữu M tổng số tiền là 80.000.000đ. Th đã bồi thường cho anh M được 40.000.000đ, anh M yêu cầu Th phải tiếp tục bồi thường cho anh M 40.000.000đ còn lại. Ngoài ra, anh M không có yêu cầu gì thêm.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho Lê Vũ Th 01 Giấy phép lái xe số 380092380957 cấp ngày 16/11/2017 mang tên Lê Vũ Th (bản chính) hiện có trong hồ sơ vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Sơn, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 21/01/2022, Lê Vũ Th điều khiển xe ô tô con (loại 02 chỗ ngồi) BKS: 36D-014.65 đi đến khu vực ngã ba thuộc thôn Hoàng Học, xã Đông Hoàng thì nhìn thấy phía trước có xe ô tô BKS: 36A-228.78 do anh Trịnh Hữu M, sinh năm 1990, ở thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn đang điều khiển đi từ hướng TP. thanh Hóa về huyện Triệu Sơn (ngược với hướng đi của Th) cách xe ô tô mà Th đang điều khiển khoảng 80m. Lúc này, Th đã chuyển hướng không nhường đường cho xe đi ngược chiều dẫn đến đâm va với xe ô tô do anh Trịnh Hữu M điều khiển. Hậu quả xe ô tô của anh M bị hư hỏng với tổng giá trị tài sản thiệt hại là 131.831.280 đồng, xe ô tô do Th điều khiển bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 77.935.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lê Vũ Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được qui định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có cơ sở và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông có giấy phép lái xe. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường đường cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác, nhưng bị cáo không giảm tốc độ đến mức không nguy hiểm (có thể dừng lại một cách an toàn). Bị cáo không tuân thủ đầy đủ quy định của luật giao thông đường bộ, đã trực tiếp xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Đây là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông hậu quả làm xe ô tô của anh M bị hư hỏng với tổng giá trị tài sản thiệt hại là 131.831.280 đồng, xe ô tô do Th điều khiển bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 77.935.000 đồng.

Hành vi của Lê Vũ Th đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định: “Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”. Vì vậy Lê Vũ Th đã phạm tội:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn công cộng an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tài sản của người khác. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường một phần cho gia đình bị hại, hậu quả xảy ra ngoài mong muốn, có nơi cư trú rõ ràng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có 1 phần lỗi khi phát hiện xe Th điều khiển có tín hiệu xi nhan rẽ phải về hướng đường tỉnh lộ 515B, nhưng lúc này, M nghĩ xe ô tô đó sẽ nhường đường cho M đi trước nên tiếp tục điều khiển xe đi thẳng, sau đó đã đâm va với xe ô tô do Th điều khiển. Vì vậy nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương, giám sát giáo dục cũng đủ để bị cáo trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo và Trịnh Hữu M đã tự nguyện thống nhất thỏa thuận với nhau Th phải bồi thường cho anh M tổng số tiền là 80.000.000đ. Th đã bồi thường cho anh M được 40.000.000đ, anh M yêu cầu Th phải tiếp tục bồi thường cho anh M 40.000.000đ còn lại. Ngoài ra, anh M không yêu cầu gì thêm.

Về vật chứng: Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu của chiếc xe ô tô BKS: 36A-228.78 là anh Trịnh Hữu M; chủ sở hữu của chiếc xe ô tô BKS: 36D-014.65 là chị Lê Thị H sinh năm 1991, ở thôn Ch, xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn. Ngày 27/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả lại chiếc xe ô tô BKS: 36A-228.78 cho anh M và trả lại chiếc xe ô tô BKS: 36D-014.65 cho chị H là phù hợp.

Thu giữ 01 Giấy phép lái xe số 380092380957 mang tên Lê Vũ Th, xét thấy không cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 260 BLHS đối với bị cáo, nên trả lại 01 giấy phép lái xe cho Lê Vũ Th là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23; khoản 3 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14; Tiểu mục b; Mục 1.3 phần 1; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Vũ Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ’’.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Vũ Th 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Vũ Th UBND xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự.

Bị cáo và Trịnh Hữu M đã tự nguyện thống nhất thỏa thuận với nhau Th phải bồi thường cho anh M tổng số tiền là 80.000.000đ. Th đã bồi thường cho anh M được 40.000.000đ. Buộc Th phải tiếp tục bồi thường cho anh Trịnh Hữu M số tiền còn lại là 40.000.000đ.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho Lê Vũ Th 01 Giấy phép lái xe số 380092380957 cấp ngày 16/11/2017 mang tên Lê Vũ Th (bản chính) hiện có trong hồ sơ vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí : Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí dân sự.

- Về quyền kháng cáo : Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ