vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 15/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Kim Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2022. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Dương Kim Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) là số tiền mà anh Nguyễn Văn D đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Kim Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày 08-11-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Công Thịnh

Ông Đỗ Cường Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Lan Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Dƣơng Kim Đ, sinh ngày 05 tháng 8 năm 1997 tại xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Dương Trung B, sinh năm 1977; con bà Triệu Thị T, sinh năm 1976; anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 19/5/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 19/5/2022. Khi đang chấp hành Quyết định trên thì ngày 21/7/2022 Dương Kim Đ có hành vi trộm cắp tài sản; nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 22/7/2022 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 21/7/2022, Dương Kim Đ, sinh năm 1997; trú tại: Thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đi bộ một mình sang nhà Dương Trung H, sinh năm 1989, trú cùng thôn để chơi. Đến nơi không có ai ở nhà, Dương Kim Đ nhìn thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu sơn trắng – đen, biển kiểm soát 29T - 010.70 là xe của anh Đặng Văn T, sinh năm 1993, trú cùng thôn (anh Đặng Văn T để xe ở đó để đi làm), chìa khóa vẫn cắm ổ khóa điện. Quan sát xung quanh không có ai, Dương Kim Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Dương Kim Đ ngồi lên xe mô tô mở khóa điện đề xe nhưng xe không nổ, Đ dùng chân đạp vào cần khởi động xe mô tô, sau đó nổ được xe, Dương Kim Đ điều khiển xe mô tô trộm cắp được đến quán sửa xe mô tô của anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1993, trú tại: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn cầm cố với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Sau đó, Dương Kim Đ bắt xe ô tô khách xuống khu vực đường tròn T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên gặp và mua ma túy Heroin với một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, Đ đến một bãi đất trống rồi tự sử dụng hết số ma túy mua được. Còn lại 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) Dương Kim Đ đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 22/7/2022 Dương Kim Đ bắt xe ô tô khách quay về nhà, do biết hành vi trộm cắp ngày 21/7/2022 đã bị phát hiện nên Dương Kim Đ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận số 11/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bắc Sơn kết luận: Tại thời điểm định giá, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 29T1 - 010.70, sản xuất năm 2011, xe cũ đã qua sử dụng, xe vẫn hoạt động bình thường có giá trị là 2.967.000 đồng (hai triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Cáo trạng số 26/CT-VKBS-HS ngày 06/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn đã truy tố bị cáo Dương Kim Đ về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

Đối với Nguyễn Văn D, Cơ quan điều tra xác định do Nguyễn Văn D không biết tài sản do mình nhận cầm cố là tài sản do trộm cắp mà có, quá trình trao đổi, cầm cố xe mô tô Dương Kim Đ không nói cho anh Nguyễn Văn D biết chiếc xe này là tài sản do Đ trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn D trong vụ án này.

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS số 026110 mang tên Nguyễn Thị L -1989; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen – trắng BKS 29T1 – 010.70. Số máy: 433107; số khung: 433107 (tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng, phần yếm xe bị vỡ rời, không còn nguyên vẹn). Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, ngày 14/9/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Sơn đã trả lại chiếc xe mô tô cho bị hại anh Đặng Văn T để tiếp tục quản lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đặng Văn T sau khi được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn trả lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) là số tiền mà anh Nguyễn Văn D đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 29T1 -010.70.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Kim Đ từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Do bị hại anh Đặng Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Buộc bị cáo Dương Kim Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) là số tiền mà anh Nguyễn Văn D đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 29T1 -010.70.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 14/9/2022.

Về án phí: Buộc bị cáo Dương Kim Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Dương Kim Đ không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát

Tại phần nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, đánh giá toàn diện tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 21/7/2022, tại sân nhà anh Dương Trung H, sinh năm 1989 thuộc thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Dương Kim Đ, sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã có hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 29T1 – 010.70 của anh Đặng Văn T, sinh năm 1993, trú cùng thôn. Qua định giá xác định tài sản bị trộm cắp có giá trị 2.967.000 đồng (hai triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Dương Kim Đ đủ dấu hiệu cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn truy tố bị cáo Dương Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Kim Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gián tiếp xâm phạm đến lĩnh vực quản lý trật tự an toàn xã hội, do vậy phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân: Ngày 19/5/2022 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 19/5/2022. Khi đang chấp hành Quyết định trên thì ngày 21/7/2022 Dương Kim Đ có hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy, bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Do bị cáo Dương Kim Đ phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do vậy bị cáo được hưởng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Dương Kim Đ đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Sơn để đầu thú, do vậy Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Tại biên bản xác minh của Công an huyện Bắc Sơn ngày 27/7/2022, bị cáo Dương Kim Đ không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Do bị hại anh Đặng Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Buộc bị cáo Dương Kim Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) là số tiền mà anh Nguyễn Văn D đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 29T1 -010.70.

Về vật chứng của vụ án: Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại anh Đặng Văn T theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 14/9/2022.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 357 và các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Kim Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2022.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Dương Kim Đ phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) là số tiền mà anh Nguyễn Văn D đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 29T1 -010.70.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại anh Đặng Văn T theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 14/9/2022.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Kim Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Kim Đ có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Đặng Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ