vanban.org

Bản án 30/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tuyết N.

Chị Nguyễn Tuyết N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Chị N trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phú H, sinh ngày 13/10/2015, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Tuyết N- Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tuyết N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20- 4-2022
V/v Ly hôn, t/c về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Tthành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Văn Mưa Lớn

2. Ông Đường Thanh Chánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 59/2022/TLST-HN ngày 21 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐST – HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Tuyết N, sinh năm 1995; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Chị N, anh T có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Tuyết N trình bày:

Chị và anh T quen nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 04/5/2015 được UBND xã Th cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 04/5/ 2015. Sau ngày cưới vợ chồng chị sống chung gia đình chồng tại ấp T, xã T cho đến nay. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, anh T đi làm ăn xa vài tháng mới về nhà một lần, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do cả hai không còn hợp nhau về tư tưởng cũng như cách sống, anh T không quan tâm chăm sóc cho vợ con.

Chị và anh T đã ly thân từ tháng 11/2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân chị, gia đình hai bên có hàn gắn tình cảm cho vợ chồng chị nhưng không thành. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh T.

Về con chung: có một con chung tên Nguyễn Phú H, sinh ngày 13/10/2015, chị xin nuôi con không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: không có.

Anh Nguyễn Văn T xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày như sau:

Chị L xin ly hôn anh đồng ý. Anh và chị N ly hôn vì trong thời gian sống chung chị N ngoại tình với một người khác nên xảy ra mâu thuẫn không thể sống chung được nữa.

Về con chung: có một con chung tên Nguyễn Phú H, sinh ngày 13/10/2015, anh đồng ý để con cho chị N nuôi anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có

Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự trong quá trình thụ lý và giải quyết nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Tuyết N , chị N được ly hôn với anh T; Con chung tên Nguyễn Phú H, sinh ngày 13/10/2015 chị N nuôi, anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu; Tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án cần giải quyết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền giải quyết: Theo xác nhận của Công an xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ngày 21/02/2022 xác nhận Nguyễn Văn T hiện có đăng ký thường trú tại xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M.

Chị Nguyễn Tuyết N, anh Nguyễn Văn T có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, anh T.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Tuyết N, anh Nguyễn Văn T kết hôn vào năm 2015, trên cơ sở quen biết và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N, chị N cho rằng vợ chồng chị mâu thuẫn do anh T đi làm ăn xa vài tháng mới về nhà một lần, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do cả hai không còn hợp nhau về tư tưởng cũng như cách sống, anh T không quan tâm chăm sóc cho vợ con. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 11/2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân chị, gia đình hai bên có hàn gắn tình cảm cho vợ chồng chị nhưng không thành. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh T. Anh T cho rằng anh và chị N ly hôn vì trong thời gian sống chung chị N ngoại tình với một người khác nên xảy ra mâu thuẫn không thể sống chung được nữa.Nay chị N xin ly hôn anh đồng ý. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mất hạnh phúc giữa chị N và anh T thì cha anh T cho biết chị N và anh T có cự cãi nhau, anh T đi làm xa thường xuyên vắng nhà, di chuyển nhiều nơi nên có thể tình cảm lợt lạt, qua xác minh tại cán bộ tư pháp của UBND xã T cho biết giữa chị N và anh T có mâu thuẫn không thì bà không rõ nhưng anh T thường xuyên đi làm ăn xa, ít về nhà. Như vậy, giữa chị N và anh T mâu thuẫn là có thật. Anh chị là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng, thấy rằng mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã trầm trọng, muïc ñích hoân nhaân giöõa hai anh chò khoâng ñaït ñöôïc ñôøi soáng chung khoâng theå keùo daøi neân chaáp nhaän yeâu caàu của chị N là phù hợp.

Về con chung: Chị N và anh có 01 con chung tên Nguyễn Phú H, sinh ngày 13/10/2015, chị xin nuôi con không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. anh T đổng ý để con cho chị N nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc thỏa thuận của chị N, anh T là phù hợp với qui định của pháp luật, cháu H hiện nay đang sống cùng chị N và ông bà nội nên để đảm bảo quyền lợi cho cháu H Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu chị N giao cháu Nguyễn Phú H, sinh ngày 13/10/2015 cho chị N trực tiếp nuôi, ghi nhận chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị N, anh T trình bày tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị N, anh T trình bày không có nên không xem xét.

Án phí : Do yêu cầu xin ly hôn của chị N được chấp nhận nên chị N phải chịu án phí theo qui định là 300.000 đồng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày B phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Tuyết N.

Chị Nguyễn Tuyết N được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Chị N trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phú H, sinh ngày 13/10/2015, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị N, anh T trình bày tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị N, anh T trình bày không có nên không xem xét.

5. Án phí: Chị Nguyễn Tuyết N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 ( ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu số 0004953 ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên không phải nộp thêm.

6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ