vanban.org

Bản án 30/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: Chị Võ Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về án phí: Chị Võ Thị Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, chị Y đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007857 ngày 05/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, nay không phải nộp nữa. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án Xin ly hôn giữa Chị Võ Thị Y và Anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Võ Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26/12/2022.
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: .

1. Ông Nguyễn Quốc T.

2. Ông Phạm Ngạch.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2022/TLST

- HNGĐ ngày 05/10/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-DS ngày 22/11/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 1286/2022/QĐST-DS ngày 07/12/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Y. sinh năm 1976. Địa chỉ: Xóm 7, Xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T. sinh năm 1976. Địa chỉ: Xóm 7, Xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà ngày hôm nay, nguyên đơn chị Võ Thị Y trình bày:

Về tình cảm: Chị Võ Thị Y và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn vào ngày 03/12/1997, tại UBND xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống tại xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được sự đồng cảm để giải quyết vấn đề gia đình êm ấm. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nay chị Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hạnh phúc hôn nhân không thể đạt được nữa nên chị Y làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Văn N, sinh ngày 24/02/1999 và Nguyễn Thị T, sinh ngày 14/3/2002. Hai con hiện nay đã trưỡng Thành trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã trực tiếp tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn T biết, nhưng không có mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Anh có ý kiến đã biết được chị Y làm đơn xin ly hôn nên nhất trí và có đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vụ án vắng mặt, còn về con chung hiện nay các con đã trên 18 tuổi và tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý đơn, giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật; bị đơn Không thực hiện chưa đủ các quy định pháp luật.

- Về ý kiến giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đối chiếu với các quy định của pháp luật có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ vợ, chồng: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật HNGĐ chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Võ Thị Y, đồng ý cho chị Y ly hôn với anh T.

+ Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Tên là Nguyễn Văn N, sinh ngày 24/02/1999 và Nguyễn Thị T, sinh ngày 14/3/2002. Hai con hiện nay đã trưỡng Thành trên 18 tuổi, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản: các bên đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét.

+ Đề nghị HĐXX buộc nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị Y có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện H giải quyết ly hôn, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn T có địa chỉ cư trú tại xóm 7, xã P, huyện H nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã biết được Tòa án thụ lý vụ án, nhưng không có mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn. Nên vụ án không thể hòa giải để các đương sự thỏa thuận được với nhau. Vì vậy vụ án phải đưa ra xét xử. Tòa án đã triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ 01 nhưng bị đơn vắng mặt nên hoãn phiên tòa, đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn. Phiên tòa lần thứ 2 bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ vợ chồng: Chị Võ Thị Y và anh Nguyễn Văn T kết hôn dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh T là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thể hòa hợp trong cuộc sống hôn nhân, không đem lại hạnh phúc cho nhau, dẫn đến mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị Y và anh T vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay, đã cắt đứt mọi quan hệ với nhau. HĐXX nhận thấy suốt một thời gian dài vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nữa. Việc chị Y làm đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ, phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên HĐXX chấp nhận chị Võ Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Văn N, sinh ngày 24/02/1999 và Nguyễn Thị T, sinh ngày 14/3/2002. Nay hai con đã trưỡng Thành trên 18 tuổi có khả năng lao động tốt và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

Về quan hệ tài sản chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Về quan hệ tình cảm: Chị Võ Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về án phí: Chị Võ Thị Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, chị Y đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007857 ngày 05/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, nay không phải nộp nữa.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ