vanban.org

Bản án 30/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với ông Nguyễn Hải K về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nguyễn Hải K phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền nợ tính đến ngày 02/12/2019 là 29.241.222 đồng (hai mươi chín triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn hai trăm hai mươi hai đồng), trong đó nợ gốc 20.096.644 đồng, nợ lãi 9.144.578 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án Galaxy-Khương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với ông Nguyễn Hải K về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/DS-ST
Ngày : 20-9-2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Sang

Ông Bùi Đức Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Dương Tấn Phát - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXX-DS ngày 02 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-DS ngày 29/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH mua bán nợ G

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền T – Giám đốc

Địa chỉ: Tầng 1, tầng 2, tòa nhà PVL LT Tower, số 5 đường D1, phường LT, Tp TĐ, Tp Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1985; nơi cư trú: 89 HPT, phường HX, quận CL, Đà Nẵng là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 21/5/2022). (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hải K, sinh năm 1982; nơi cư trú: 15/3, TQD, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20 tháng 5 năm 2022 của Công ty TNHH Mua bán nợ G, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức H trình bày:

Ngày 21/11/2017, ông Nguyễn Hải K có kí hợp đồng tín dụng số 20171128-0000285 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (Nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng VNTV SMBC) (sau đây gọi tắt là VPB SMBC FC) để vay số tiền 26.375.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Nguyễn Hải K có trách nhiệm thanh toán số tiền 46.545.222 đồng (gồm cả gốc lẫn lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.911.265 đồng, tháng cuối cùng trả 2.586.127 đồng. Bắt đầu từ ngày 02/01/2018.

Thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hải K đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho VPB SMBC FC 9 lần với tổng số tiền 17.304.000 đồng bao gồm 6.278.356 đồng nợ gốc và 11.025.644 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 29/12/2018 đến nay, ông Nguyễn Hải K không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Hiện nay khoản nợ đã được VPB SMBC FC chuyển nhượng lại cho Công ty TNHH Mua bán nợ G.

Do ông Nguyễn Hải K trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH mua bán nợ G khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hải K thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty toàn bộ số nợ tính đến ngày 02/12/2019 là 29.241.222 (hai mươi chín triệu hai trăm bốn mươi mốt ngàn hai trăm hai mươi hai) đồng, bao gồm:

- Trả toàn bộ khoản nợ gốc tính đến ngày 02/12/2019: 20.096.644 đồng

- Trả toàn bộ khoản nợ tính lãi tính đến ngày 02/12/2019: 9.144.578 đồng.

Ngoài ra, Công ty G không yêu cầu tính lãi quá hạn phát sinh.

Bị đơn ông Nguyễn Hải K đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý án án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hải K không đến Tòa án và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn ông Nguyễn Hải K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông K. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị: Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 91 và Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc ông Nguyễn Hải K phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền nợ tính đến ngày 12/02/2019 là 29.241.222 đồng (trong đó tiền gốc 20.096.644 đồng, tiền lãi 9.144.578 đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty G không yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 12/02/2020. Về án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Hải K phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Công ty TNHH Mua bán nợ G yêu cầu ông Nguyễn Hải K trả tiền vay, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Căn cứ khoản 3, điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự, cụ thể là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

[1.2] Nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn ông Nguyễn Hải K, cư trú tại: 15/3, TQD, thị trấn PP, huyện TS, tỉnh Bình Định nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

[1.3] Bị đơn ông Nguyễn Hải K đã được Tòa triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hải K theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G, yêu cầu ông Nguyễn Hải K thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền tính đến ngày 02/12/2019 là 29.241.222 đồng, trong đó nợ gốc 20.096.644 đồng, nợ lãi: 9.144.578 đồng.

Ông Nguyễn Hải K đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt mà không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có văn bản trình bày ý kiến khi nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự “đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng ngày 21/11/2017 thì có căn cứ xác định ông Nguyễn Hải K có ký với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (Nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng VNTV SMBC) Hợp đồng vay vốn số 20171128-0000285 số tiền 26.375.000 đồng, trong đó vay tiêu dùng 25.000.000 đồng, vay trả phí bảo hiểm 1.375.000 đồng (Phí bảo hiểm là 5,5% giá trị của khoản vay tiêu dùng cá nhân), thời hạn vay tiêu dùng 24 tháng, lãi suất 5%/tháng, Lịch sử thanh toán và Bảng kế hoạch trả nợ thì hình thức và nội dung sự thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết. Ông Nguyễn Hải K đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho VPB SMBC FC 9 lần với tổng số tiền 17.304.000 đồng bao gồm 6.278.356 đồng nợ gốc và 11.025.644 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 29/12/2018 đến nay, ông Nguyễn Hải K không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng vay vốn đã ký nên căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH Mua bán nợ G về việc yêu cầu ông Nguyễn Hải K thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền tính đến ngày 02/12/2019 là 29.241.222 đồng (trong đó nợ gốc 20.096.644 đồng, nợ lãi 9.144.578 đồng) là có cơ sở, phù hợp với quy định tại điều 91 và Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng, nên chấp nhận.

Sau ngày 12/02/2020 đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả bất kỳ khoản lãi nào nữa. Sau ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn phải chịu lãi chậm thi hành án theo quy định của Bộ luật Dân sự theo yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ G nên ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố dụng dân sự. Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì án phí về tranh chấp dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 29.241.222đ x 5% = 1.462.061 đồng (làm tròn 1.462.000 đồng). Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G.

Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 91 và Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội kháo 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G đối với ông Nguyễn Hải K về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

2. Buộc ông Nguyễn Hải K phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền nợ tính đến ngày 02/12/2019 là 29.241.222 đồng (hai mươi chín triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn hai trăm hai mươi hai đồng), trong đó nợ gốc 20.096.644 đồng, nợ lãi 9.144.578 đồng.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty TNHH Mua bán nợ G không yêu cầu tính lãi phát sinh sau ngày 02/12/2019.

4. Án phí dân sự sơ thẩm

- Ông Nguyễn Hải K phải chịu 1.462.000 đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn không trăm đồng)

- Hoàn trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền 730.000 đồng (bảy trăm ba mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí (do ông Nguyễn Đức H nộp) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0007341 ngày 27/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

6. Về quyền nghĩa vụ thi hành án:

6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ