- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Đ- ông S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/DS-ST Ngày 19 - 4 – 2022 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
TÒ A Á N NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tuấn Kiệt
2. Bà Khưu Liên Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2021/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXX-ST ngày 07 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ; Địa chỉ: Số 130 P, phường Q, quận P, TP. Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Minh T– Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hải Đ– Nhân viên PTKD (văn bản ủy quyền số 37/UQ-LTG ngày 12/11/2021).
Bị đơn: Ông S, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số 05 lô E, tập thể K, khóm M, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông Đ có đơn xin vắng mặt, ông S vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án đại diện theo ủy quyền Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và Ông S đã ký Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/6/2015: Số tiền vay là 70.000.000 đồng; thời hạn vay: 36 tháng, kể từ ngày 08/6/2015 đến ngày 08/6/2018; lãi suất trong hạn 8,4%/năm, lãi suất quá hạn: 12,6% (bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn); Vay: tín chấp. Ngày 08/6/2015, Ngân hàng đã chuyển số tiền 70.000.000 đồng vào tài khoản của Ông S.
Trong quá trình vay vốn, Ông Sđã vi phạm hợp đồng vay không thanh toán nợ, lãi đúng quy định cho Ngân hàng. Tính đến ngày 19/4/2022, Ông Scòn nợ lại Ngân hàng tổng số tiền là 7.224.855 đồng, trong đó nợ gốc là 4.770.541 đồng, lãi trong hạn 1.651.193 đồng, lãi quá hạn 803.121 đồng nên nay Ngân hàng yêu cầu Ông Sphải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 7.224.855 đồng, trong đó nợ gốc là 4.770.541 đồng, lãi trong hạn 1.651.193 đồng, lãi quá hạn 803.121 đồng và yêu cầu Ông Sphải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Theo bị đơn Ông S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp, phiên hòa giải nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì. Nguyên đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc Ông S thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền là 7.224.855 đồng, trong đó nợ gốc là 4.770.541 đồng, lãi trong hạn 1.651.193 đồng, lãi quá hạn 803.121 đồng và yêu cầu Ông Sphải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đây là tranh chấp dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn Ông S có địa chỉ: Số 05 lô E, tập thể K, khóm M, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Nguyên đơn có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và Ông S đã ký Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/6/2015: Số tiền vay là 70.000.000 đồng; thời hạn vay: 36 tháng, kể từ ngày 08/6/2015 đến ngày 08/6/2018; lãi suất trong hạn 8,4%/năm, lãi suất quá hạn: 12,6% (bằng 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn); Vay: tín chấp. Ngày 08/6/2015, Ngân hàng đã chuyển số tiền 70.000.000 đồng vào tài khoản cá nhân của Ông S và ông S đã nhận đủ tiền vay nên giao dịch trên là có xảy ra trên thực tế. Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thì đã quá thời hạn thanh toán nhưng Ông Svẫn không thanh toán hết nợ cho Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Ông Sthực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/04/2022) tổng số tiền là 7.224.855 đồng, trong đó nợ gốc là 4.770.541 đồng, lãi trong hạn 1.651.193 đồng, lãi quá hạn 803.121 đồng là có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, Ông Scòn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
[3] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.
[4] Về án phí: Ông S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 7.224.855 đồng nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 361.000 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ yêu cầu khởi kiện được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007129 ngày 23/11/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được hoàn lại toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Điều 429; Điều 463; 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ
Buộc Ông S có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền là 7.224.855 (bảy triệu hai trăm hai mươi bốn ngàn tám trăm năm mươi lăm) đồng, trong đó nợ gốc là 4.770.541 (bốn triệu bảy trăm bảy mươi ngàn năm trăm bốn mươi mốt) đồng, lãi trong hạn 1.651.193 (một triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn một trăm chín mươi ba) đồng, lãi quá hạn 803.121 (tám trăm lẻ ba ngàn một trăm hai mươi mốt) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/4/2022), Ông S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Buộc Ông S phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 361.000 (ba trăm sáu mươi mốt) đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007128 ngày 23/11/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
̀
̉
| -TAND tỉnh Ba ̣c Liêu; -VKSND thanh Tp. Ba ̣c Liêu; ̀ -CCTHADS Tp. Ba ̣c Liêu; -Đương sự; -Lưu HS. | TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM ̉ THÂM PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒ A Ngô Hồng Trinh |