vanban.org

Bản án 30/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 20/01/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Việt H1.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2020/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tran Dinh Q - Huynh Viet H1"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Việt H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/DS-PT
Ngày 20– 01– 2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Cẩm Đào

Các thẩm phán:

Bà Bùi Thị Phương Loan

Bà Châu Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thúy Nguyên - là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 tháng 4 năm 2021 và ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2021/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2020/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 49/2021/QĐ-PT ngày 10 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Đình Q, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số 172/183/26/9/8, đường An Dương Vương, phường 16, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/3/2021): Anh Trần Ngọc Đức Tín, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Số 156, đường 10, phường 4, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Việt H1, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh C ..

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH thương mại Tân Viễn Đông.

Địa chỉ: Số 35-37, đường 24 Bình Phú, phường 11, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn Công, chức vụ: Giám đốc .

Người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/3/2021): Anh Trần Ngọc Đức Tín, sinh năm 1983 .

Địa chỉ: Số 156, đường 10, phường 4, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Việt H1, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2020 và trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 01/7/2016 ông Huỳnh Việt H1 có vay của ông Trần Đình Q số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn thanh toán 30 ngày, việc vay nợ hợp đồng bằng văn bản. Sau đó, ông H1 xin gia hạn đến ngày 30/7/2017 sẽ thanh toán 250.000.000 đồng nhưng đến nay ông H1 không thanh toán. Nay ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H1 trả cho ông Q 1.000.000.000 đồng và lãi suất theo pháp luật từ khi vay đến nay.

Bị đơn ông Huỳnh Việt H1 trình bày: Ông Huỳnh Việt H1, ông Huỳnh Việt Hải và ông Huỳnh Việt Dững có hợp đồng mua tàu lưới với Công ty TNHH thương mại Tân Viễn Đông (gọi tắt là Công ty Tân Viễn Đông), quá trình giao dịch được phía Công ty Tân Viễn Đông hỗ trợ hoạt động 1.000.000.000 đồng/ 01 chủ tàu nhưng ông Huỳnh Việt Hải là người nhận hỗ trợ thay cho ông H1. Nay ông thừa nhận có nợ và đồng ý trả cho Công ty Tân Viễn Đông số tiền 1.000.000.000đ. Ông không quen biết cũng không có vay tiền của ông Trần Đình Q nên không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Q về việc buộc ông trả số tiền 1.000.000.000 đồng và lãi suất theo pháp luật từ khi vay đến nay.

Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH thương mại Tân Viễn Đông trình bày : Công ty Tân Viễn Đông có kinh doanh nghề đóng tàu nhưng không có hỗ trợ mỗi người đóng tàu một tỷ đồng như ông H1 trình bày. Việc ông Hải, ông Dững nhận tiền cũng là tiền vay của ông Q không phải của công ty Tân Viễn Đông. Số tiền 1 tỷ đồng tranh chấp trong vụ án là tiền ông Q cho ông H1 vay tại công ty Tân Viễn Đông. Công ty Tân Viễn Đông không có cho ông H1 vay hay mượn bất cứ khoản tiền nào.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2020/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Q. Buộc ông Huỳnh Việt H1 có nghĩa vụ trả cho ông Trần Đình Q số tiền là 1.387.000.000 đồng (một tỷ ba trăm tám mươi bảy triệu đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 11/12/2020, ông Huỳnh Việt H1 có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, do không đưa ông Huỳnh Việt Hải, Huỳnh Việt Dững vào tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông. Đồng thời, giao dịch giữa hợp đồng kinh tế đóng tàu cá nhằm phát sinh lợi nhuận nhưng Tòa án thụ lý vụ án dân sự là không phù hợp.

Phần tranh luận tại phiên toà: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Ông Huỳnh Việt H1 vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Nội dung kháng cáo của ông H1 là không có căn cứ nên đề nghị HĐXX không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án huyện Phú Tân tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Trần Đình Q yêu cầu ông Huỳnh Việt H1 thanh toán số tiền 1 tỷ đồng và lãi theo lãi suất nhà nước. Ông H1 không thừa nhận có vay của ông Q số tiền 1 tỷ đồng. Án sơ thẩm buộc ông H1 thanh toán cho ông Q số tiền 1.000.000.000 đồng và lãi nên ông H1 kháng cáo.

Xét đơn kháng cáo của ông H1, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Q cho rằng vào ngày 01/7/2016, ông Huỳnh Việt H1 có vay của ông Q số tiền 1 tỷ đồng, thời hạn thanh toán là 30 ngày, có viết biên nhận. Sau đó ông H1 không thanh toán nên hai bên đã thống nhất gia hạn thêm thời gian từ ngày 30/7/2017 thanh toán mỗi tháng 250.000.000 đồng, ông H1 ký xác nhận. Ông H1 không thừa nhận có vay tiền của ông Q, ông H1 chỉ thừa nhận có nhận 1 tỷ đồng từ Công ty Tân Viễn Đông để hổ trợ cho việc đóng tàu nhưng đến thời điểm này Công ty Tân Viễn Đông chưa đóng tàu được và ông H1 xác định nếu Công ty Tân Viễn Đông yêu cầu ông thanh toán số tiền trên thì ông đồng ý.

Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tạm ngừng phiên tòa để làm việc với những người có liên quan trong vụ án theo yêu cầu của ông H1, cụ thể ông Công là người đại diện cho công ty Tân Viễn Đông xác định không có đưa cho ông H1 bất cứ khoản tiền nào. Ông H1 xác định có nhận 1 tỷ đồng của công ty Tân Viễn Đông nhưng công ty Tân Viễn Đông xác định không giao tiền cho ông H1. Ông H1 không thừa nhận có vay tiền của ông Q nhưng tại bản “HỢP ĐỒNG CHO VAY NỢ” ngày 01/07/2016 và “THÔNG BÁO LẦN 1” ngày 10/7/2017, có chữ ký và chữ viết của ông Huỳnh Việt H1, ông H1 thừa nhận chữ ký trong các giấy tờ trên là của ông H1, nhưng ông H1 không giải thích được lý do gì sao ký vào hợp đồng vay tiền.Do đó, ông H1 phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông Q như án sơ thẩm đã giải quyết là phù hợp.

Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm ông H1 yêu cầu hủy án sơ thẩm do không đưa ông Huỳnh Việt Hải và Huỳnh Việt Dững vào tham gia tố tụng là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông và Tòa án thụ lý vụ án dân sự là không phù hợp. Xét thấy, số tiền ông Q yêu cầu ông H1 thanh toán không liên quan đến ông Hải và ông Dững nên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Hải, ông Dững vào tham gia tố tụng là phù hợp. Do ông Q và ông H1 là hai cá nhân không có đăng ký kinh doanh, ông Q kiện ông H1 về việc thanh toán tiền vay nên Tòa sơ thẩm thụ lý vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản là đúng quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, việc ông H1 kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Ông H1 kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H1. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.

Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông H1 không được chấp nhận nên ông H1 phải chịu án phí.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Việt H1.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2020/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đình Q.

Buộc ông Huỳnh Việt H1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Đình Q số tiền là 1.387.000.000 đồng (trong đó vốn gốc là 1 tỷ đồng và lãi là 387.000.000 đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Huỳnh Việt H1 phải chịu 53.610.000 đồng (chưa nộp). Ông Trần Đình Q được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 21.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011917 ngày 7/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Việt H1 phải chịu số tiền 300.000 đồng. Vào ngày 21 tháng 01 năm 2021 ông H1 đã nộp tạm ứng 300.000đ, biên lai số 0012402 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân được chuyển thu án phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ