vanban.org

Bản án 30/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 01/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về trách nhiệm hình sự: Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 17 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21-12-2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Th bị truy tố và xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số: 30/2021/HSST
Ngày 01 tháng 4 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tân

Ông Lê Quang Khỏe

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2021/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982; ĐKHKTT và trú tại: Số A Đặng Quốc C, phường L, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1959; Vợ là Nguyễn Thị Th, sinh năm 1987 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: chưa.

Nhân thân:

- Quyết định số 92 ngày 15/6/2002 của Công an thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thanh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền 100.000 đồng. Nộp tiền phạt ngày 15/6/2002.

- Tháng 2/2003, Công an thành phố Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thanh T về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (trị giá tài sản chiếm đoạt 900.000 đồng).

- Bản án số 37/HSPT ngày 15/7/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải

Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 700.000 đồng). Chấp hành xong ngày 04/12/2003. Nộp tiền án phí ngày 08/3/2010.

- Bản án số 66/HSST ngày 21/6/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 350.000 đồng). Chấp hành xong ngày 09/01/2005. Nộp tiền án phí ngày 08/3/2010.

- Bản án số 30/2005/HSST ngày 16/11/2005 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 400.000 đồng). Chấp hành xong ngày 03/9/2006. Nộp tiền án phí ngày 08/3/2010.

- Bản án số 02/2007/HSST ngày 10/01/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 400.000 đồng). Chấp hành xong ngày

24/7/2007. Nộp tiền án phí ngày 08/3/2010.

- Bản án số 29/2008/HSST ngày 22/02/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy . Chấp hành xong ngày 29/02/2010. Nộp tiền án phí ngày 08/3/2010.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/12/2020, chuyển tạm giam từ ngày 23/12/2020 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn C, sinh năm 1961; trú tại: khu A phường Trần Phú, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

2. Ông Vũ Viết Ph, sinh năm 1960; trú tại: số S Tam Giang, phường Trần Hưng Đạo, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30' ngày 21/12/2020, Nguyễn Thanh T thuê xe ôm đi từ Nguyễn Hữu Câu, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương đến khu vực đường Điện Biên Phủ, thành phố Hải Dương mua được 01 gói ma túy đá của một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với số tiền 200.000 đồng rồi để trong lòng bàn tay phải đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ 50' cùng ngày, khi T đi đến khu vực trước cửa nhà số 273 Đinh Văn Tả, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương thì bị tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy – Công an thành phố Hải Dương trong khi làm nhiệm vụ kiểm tra, thấy vậy T thả gói ma túy xuống đất cạnh sát vị trí T đang đứng. Lực lượng công an đã thu giữ 01 gói nilon màu trắng, kích thước (1,5x1,5)cm, bên trong chứa tinh thể dạng cục màu trắng trước sự chứng kiến của ông Nguyễn C và ông Vũ Viết Ph.

Kết luận giám định số 34/KLGĐ-PC09 ngày 23/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

"Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Thanh T, gửi đến giám định khối lượng là: 0,322gam là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ".

Hoàn lại 0,270gam Methamphetamine sau giám định.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSTPHD ngày 15-3-2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương. Xác định VKSND thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" là đúng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21-12-2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,270 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 34/KLGĐ-PC09.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTV Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thanh T không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh T tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 50' ngày 21/12/2020, tại khu vực trước cửa nhà số 273 Đinh Văn Tả, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, Nguyễn Thanh T cất giấu trái phép 0,322 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Nguyễn Thanh T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện có tác hại không chỉ cho sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, việc bị cáo Nguyễn Thanh T đã có hành vi cất giấu tàng trữ trái phép 0,322gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với khối lượng và hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về nhân thân: Nguyễn Thanh T là người có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng: không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cần thiết xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thanh T tàng trữ ma túy số lượng ít, với mục đích sử dụng cho bản thân, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,322gam Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Thanh T. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật 0,270 gam Methamphetamine. Xét thấy, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với người bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh T không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 17 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21-12-2020.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong 01 phong bì được niêm phong dán kín số 34/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương;

(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-3-2021 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ