- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o, khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tú…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 30/2021/HSST Ngày: 27-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Hưng
Nghề nghiệp: Chuyên viên phòng kinh tế quận Bình Thạnh
2/ Bà Hồ Thị Lang
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí quận Bình Thạnh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2021/TLST-HS ngày 04/01/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:14/QĐXX ngày 12/01/2021 đối với bị cáo:
Lê S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1982; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: Số B, đường C, phường M, quận O, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Lê P; Họ tên mẹ: Nguyễn P. Con: có 01 người, sinh năm 2006; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/10/2002, bị tòa án quân sự khu vực 1 – QK7 tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”.
Tiền án:
- Ngày 30/6/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2011.
- Ngày 25/02/2013, bị Công an Quận 10 bắt vì hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 29/9/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 10 tuyên phạt 9 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/9/2019.
Tạm giam từ ngày 21/7/2020 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 12 giờ 10 phút ngày 21/07/2020, tại trước số N Bis, đường X, phường H, quận B, tổ tuần tra 363 Công an quận Bình Thạnh phát hiện Lê S điều khiển xe gắn máy hiệu Suzuki biển số 59S1-01539 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe, kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo phía trước ngực bên trái Sử đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. S khai nhận đây là ma túy đá nên lực lượng Công an đưa S về trụ sở để tiếp tục làm rõ (bút lục: 28; 29).
Tại Cơ quan điều tra, Lê S khai nhận bản thân có sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 21/7/2020, Sử gọi cho người bạn tên Đ (không rõ lai lịch, ngụ tại quận T) hỏi đường đi qua nhà Đ chơi. Sử điều khiển xe gắn máy biển số 59S1-01539 đi theo sự chỉ dẫn của Đ đến khu vực chân cầu B, quận B thì gặp một đối tượng nam (không rõ tên và lai lịch) và hỏi đường người này. Người này hỏi S là “đến nhà Đ để mua ma túy hả”, S không có ý định gặp Đ để mua ma túy và chưa kịp trả lời thì người này tiếp tục ngỏ ý bán ma túy cho S. S cảm thấy có nhu cầu mua ma túy về để sử dụng cho bản thân nên nói người này bán cho “nửa hộp 5” ma túy đá. Người này báo giá 900.000 đồng nhưng S nói chỉ có 800.000 đồng và người này đồng ý bán. Sau khi nhận ma túy, S cất vào túi áo đang mặc rồi tiếp tục đi đến nhà Đ. Khi đi đến trước số N Bis, đường X, phường H, quận B thì S bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra và phát hiện, thu giữ ma túy như đã nêu trên (bút lục: 73; 74).
Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh có kết luận giám định số 1251 ngày 29/7/2020, kết luận: tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê S và hình dấu Công an phường 25, quận Bình Thạnh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,6937g, loại Methamphetamine. (bút lục: 37).
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSBTh ngày 30/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Lê S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Lê S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm; áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 6 năm 6 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng:
+ 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi số vụ 1251/2020 Bình Thạnh và các chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh, điều tra viên Nguyễn Viết Nhật. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm tinh thể không màu có khối lượng 3.4873g là chứng cứ vụ án không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số thuê bao 0778976735 (không kiểm tra tình trạng hoạt động) là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
+ 01 xe gắn máy hiệu Suzuki biển số 59S1-01539, số khung RMSRU120U2YA40202, số máy F124-140202 đã bị mài đục lại không xác định được số nguyên thủy. Nhận thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, trường hợp không tìm được chủ sở hữu thì đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, cũng những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng là ma tuý thu giữ của bị cáo, phù hợp với kết luận của tổ chức giám định kỹ thuật hình sự về chất ma tuý thu được của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Lê Thanh Sử là người đã trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân thì bị kiểm tra bắt giữ cùng tang vật là ma túy, số ma tuý thu giữ của bị cáo theo kết luận giám định số số 1251 ngày 29/7/2020, kết luận: là tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê S và hình dấu Công an phường 25, quận Bình Thạnh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,6937g, loại Methamphetamine. (bút lục: 37). Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản thân bị cáo năm 2009, năm 2011 bị cáo bị Tòa án xử về các hành vi Tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy, cả hai bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích, bị cáo lại tiếp tục phạm tội với hành vi tương tự cho thấy bản chất coi thường pháp luật và lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về tính chất, mức độ, động cơ, mục đích hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đủ khả năng nhận thức ma tuý là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ bị huỷ hoại cả thể chất lẫn tinh thần, ai vi phạm sẽ bị Nhà nước xử lý nghiêm khắc, nhưng để thoả mãn ham muốn của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp mua ma tuý về sử dụng, điều này gây tác hại rất lớn cho xã hội. Xét hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh, phát triển các tệ nạn xã hội khác. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, năm 2002 bị cáo bị Tòa án xử về hành vi chiếm đoạt đã được xóa án tích. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi, nhân thân của bị cáo nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
. Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi số vụ 1251/2020 Bình Thạnh và các chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh, điều tra viên Nguyễn Viết Nhật. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm tinh thể không màu có khối lượng 3.4873g. Nhận thấy, đây là chứng cứ vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số thuê bao 0778976735 (không kiểm tra tình trạng hoạt động) là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- 01 xe gắn máy gắn biển số 59S1-01539 giả, nhãn hiệu Suzuki, loại xe hai bánh từ 50 – 175 cm3, dung tích 120, màu sơn Xanh, số khung RMSRU120U2YA40202, số máy F124-140202 đã bị mài đục lại không xác định được số nguyên thủy, là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tiếp tục đăng báo 03 kỳ tìm chủ sở hữu, trường hợp không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
- Đối với biển số giả số 59S1-015.39 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê S 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy biển số giả số 59S1-015.39 và 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi số vụ 1251/2020 Bình Thạnh, có chữ ký của giám định viên Bùi Công Danh, điều tra viên Nguyễn Viết Nhật, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm tinh thể không màu có khối lượng 3.4873g.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số thuê bao 0778976735 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).
- Tiếp tục đăng báo 03 kỳ tìm chủ sở hữu 01 xe gắn máy gắn biển số 59S1-01539 giả, nhãn hiệu Suzuki, loại xe hai bánh từ 50 – 175 cm3, dung tích 120, màu sơn Xanh, số khung RMSRU120U2YA40202, số máy F124-140202, trường hợp không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND TP. HCM; - VKSND Q-Bình Thạnh; - CQTHA DS Q. BTh; - Trại giam; - THA HS; - Phòng PV 06 - CA TP.HCM; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Những người tham gia TT; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |