- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Bá K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bá K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HSST Ngày: 14/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Sáu và ông Phạm Ngọc Trưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2021/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 đối với:
* Bị cáo: Đặng Bá K – sinh năm 1995, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Số A, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Bá C, sinh năm 1970 và bà Phạm Hồ Hoàng T, sinh năm 1977; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 20/5/2021 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác (đã chấp hành ngày 04/6/2021); Nhân thân: Ngày 25/02/2015 gây mất trật tự khu dân cư bị Công an phường X xử phạt số tiền 200.000đ; Ngày 28/10/2015 bị công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1973; Trú tại: Khu phố L, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Thanh H, sinh năm 1998; Trú tại: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 2021, Đặng Bá K điều khiển xe mô tô biển số 78C1-231.70 lưu hành từ xã A, huyện T về thành phố T và mang theo trong người hai túi nilon chứa 0,231g ma túy loại methamphetamine với mục đích để sử dụng. Khi đến chốt kiểm dịch tại thôn P, xã A, huyện T thì bị Công an xã A, huyện T kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại kết luận giám định số 225/GĐ-PC09 ngày 28/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: tinh thể màu trắng bên trong hai túi nilon là chất ma túy, loại Methamphetamine (Ma túy đá), có khối lượng 0,231g.
Vật chứng vụ án và tài sản thu giữ: 0,186g methamphetamine (còn lại sau giám định); 02 túi nilon bị cắt một đầu; Số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng); 01 ví da kích thước (17,5x12)cm; 01 xe mô tô biển số 78C1-231.70, nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu sơn vàng đen.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSTA ngày 18/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An truy tố bị cáo Đặng Bá K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố là đúng và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu V trình bày: xe môtô biển số 78C1-231.70, nhãn hiệu Honda, loại xe AirBlade, màu sơn vàng đen là của chị V, do chị V đứng tên sở hữu. Vào ngày 24/7/2021 bị cáo K mượn xe môtô nói trên để đi công việc. Bản thân chị V không biết bị cáo K tàng trữ ma túy. Chị V đề nghị được nhận lại xe môtô nói trên.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố phát biểu luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Đặng Bá K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Bá K từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 25/7/2021. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ: 0,186g methamphetamine (còn lại sau giám định); 02 túi nilon bị cắt một đầu; 01 ví da kích thước (17,5x12)cm.
- Trả cho bị cáo Đặng Bá K số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng)
- Trả cho chị Nguyễn Thị Thu V: 01 xe mô tô biển số 78C1-231.70, nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu sơn vàng đen.
Trong phần đối đáp, không phát sinh tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24 tháng 7 năm 2021 tại thôn P, xã A, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, Đặng Bá K có hành vi tàng trữ 0,231g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã A, huyện T phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi khác nhau, trong đó có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bản thân bị cáo biết rõ ma túy là chất cấm, việc sử dụng ma túy trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của bị cáo, ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Nhưng bị cáo không nhận thức được hành vi sai trái của mình mà vẫn tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
Xét thấy việc Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đặng Bá K, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không điều tra, xử lý. Do đó, HĐXX không xem xét.
Về vật chứng vụ án:
01 xe mô tô biển số 78C1-231.70, nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu sơn vàng đen là xe của chị Nguyễn Thị Thu V đứng tên chủ sở hữu, xe do bị cáo mượn để làm phương tiện đi lại, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị Thu V.
0,186g methamphetamine (còn lại sau giám định); 02 túi nilon bị cắt một đầu; 01 ví da kích thước (17,5x12)cm: Là tang vật phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành; không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 4.000.000đ: Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Đặng Bá K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS;
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Bá K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Bá K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25/7/2021.
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS; khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,186g methamphetamine (còn lại sau giám định); 02 túi nilon bị cắt một đầu; 01 ví da kích thước (17,5x12)cm
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu V: 01 xe mô tô biển số 78C1-231.70, nhãn hiệu Honda, loại xe Airblade, màu sơn vàng đen.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Bá K số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
(Toàn bộ số vật chứng nói trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 10 năm 2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy An và Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Yên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Bị cáo Đặng Bá K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
| Nơi nhận - TAND tỉnh Phú Yên (1) - VKSND huyện Tuy An (1) - VKSND tỉnh Phú Yên (1) - Cơ quan CSĐT CA huyện Tuy An (1) - Sở Tư pháp (1) - Chi cục THADS huyện T (1) - Cơ quan THAHS Công an huyện T - Bị cáo (1); Người có QLNVLQ - Lưu hồ sơ (2); Án Văn (1) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Diễm Huyền |