vanban.org

Bản án 30/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Trung T, Chu Đức Gu L, Nguyễn Trung B, Chu Đức M phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Hoàng Trung T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2020 đến ngày 30/11/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Trung T, Chu Đức Gu L, Nguyễn Trung B, Chu Đức M phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/HS-ST
Ngày: 29 - 01 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Anh Sáng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Anh Phong và bà Phạm Thị Tố Tâm

Thư ký phiên toà: Ông Võ Anh Sơn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà: Ông: Trần Minh Bằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 596/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/HSST-QĐ ngày 15/01/2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Trung T. Sinh ngày 20/11/1981 tại thành phố Vinh – Nghệ An; Nơi cư trú: khối 67, phường HS, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Trung T1 và bà Trần Thị H; Vợ: Tăng Thị Hồng N, sinh năm: 1990; Con: có 2 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 25/02/2003 bị TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 33 tháng tù về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong năm 2005; Ngày 05/7/2005 bị Công an thành phố Vinh xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/11/2020 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2020 đến ngày 30/11/2020 được tại ngoại tại địa phương áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Chu Đức Gu L. Sinh ngày 07/5/1990 tại thành phố Vinh – Nghệ An; Nơi cư trú: khối 10, phường TT, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Đức T2 và bà Phạm Thị O; vợ: Phạm Thị T3. Sinh năm 1991; Con: có 3 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã, tạm giam từ ngày 20/10/2020 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Trung B. Sinh ngày 03/8/1984 tại thành phố Vinh – Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: phòng 808, chung cư số 10 HL, phường LĐH, quận HBT, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Cán bộ Công ty CP đầu tư và phát triển nhà Hà Nội (HADICO 30); Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh X; Vợ: Bùi Thị Kim S. Sinh năm 1990; Con: có 02 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại tại địa phương áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Chu Đức M. Sinh ngày 18/7/1980 tại thành phố Vinh – Nghệ An; Nơi cư trú: xóm PQ, xã HH, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Đức H và bà Dương Thị H1; Vợ: Nguyễn Thị O, sinh năm: 1984; Con: có 2 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2020 đến ngày 28/9/2020 được tại ngoại tại địa phương, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/9/2020 Chu Đức M, Chu Đức Gu L, Nguyễn Trung B và Hoàng Trung T đến quán cà phê SFS số 02 đường LM thuộc phường LM, thành phố Vinh ngồi uống cà phê, trong lúc ngồi uống cà phê thì cả bốn người rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Xiểng” (Tiến lên miền nam). Mỗi ván thắng thua từ 50.000 đồng đến 800.000 đồng. Cả 04 người sử dụng 02 bộ bài Tu lơ khơ (Trong đó có 01 bộ bài tại bàn và 01 bộ bài do chủ quán Chu Hương G đưa cho trước đó). Khi cả nhóm đang sát phạt nhau đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác đội điều tra tổng hợp Công an thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 02 bộ bài Tu lơ khơ và số tiền 3.120.000 đồng. Quá trình bắt giữ Chu Đức Gu L lợi dụng lúc sơ hở bỏ chạy vất lại số tiền 7.200.000 đồng. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi xách của Nguyễn Trung B số tiền 41.000.000 đồng; thu giữ trong túi xách của Chu Đức M số tiền 4.770.000 đồng; Thu giữ trong túi xách của Hoàng Trung T số tiền 20.360.000 đồng. Tổng số tiền cơ quan điều tra thu giữ là 76.450.000 đồng, người và tang vật được đưa về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang.

Chu Đức Gu L bỏ trốn đến ngày 20/10/2020 bị bắt theo quyết định truy nã số 12 ngày 07/10/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Trung B sử dụng 5.000.000 đồng trong tổng số tiền bị thu giữ để đánh bạc; Chu Đức M sử dụng số tiền 4.770.000 đồng trong tổng số tiền mang theo để đánh bạc; Hoàng Trung T sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc; Chu Đức Gu L sử dụng 2.000.000 đồng trong tổng số tiền mang theo để đánh bạc. Tổng số tiền mà các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 20.690.000 đồng (Hai mươi triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng)

Tại bản cáo trạng số 20/CT - VKS - TPV ngày 18/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để xét xử các bị cáo Hoàng Trung T, Chu Đức Gu L, Nguyễn Trung B và Chu Đức M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt Hoàng Trung T từ 06 đến 09 tháng tù; Chu Đức Gu L từ 03 tháng 10 ngày tù và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa; phạt tiền Nguyễn Trung B từ 25.000.000, đồng đến 30.000.000, đồng; Chu Đức M từ 25.000.000, đồng đến 30.000.000, đồng; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tu lơ khơ, mỗi bộ có 52 quân bài là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện tội phạm. Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 20.690.000 đồng thu giữ của các bị cáo là tiền dùng để đánh bạc.

Đề nghị tuyên trả cho Nguyễn Trung B số tiền 36.000.000 đồng; Trả cho Chu Đức Gu L số tiền 4.000.000 đồng; Trả cho Hoàng Trung T số tiền 15.760.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội. Số tiền này hiện có tại tài khoản tạm giữ Kho bạc nhà nước tỉnh Nghệ An.

Các bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự về hoạt động điều tra, truy tố. Tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các văn bản, tài liệu, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện có tại hồ sơ vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, các bị cáo Hoàng Trung T, Chu Đức Gu L, Nguyễn Trung B và Chu Đức M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, nội dung cáo trạng đã truy tố, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có tại hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/9/2020 tại quán cà phê SFS số 02 đường LM, phường LM, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Chu Đức M, Chu Đức Gu L, Hoàng Trung T và Nguyễn Trung B đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Xiểng” (Tiến lên miền nam) mỗi ván thắng thua từ 50.000 đồng đến 800.000 đồng. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày thị bị Tổ công tác đội điều tra tổng hợp Công an thành phố Vinh kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 02 bộ bài Tu lơ khơ mỗi bộ 52 quân bài và số tiền 20.690.000 đồng. Hành vi đó của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 BLHS 2015 như Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng mà còn gây bất bình trong đời sống xã hội và nhân dân tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bất chính nên đã cố ý phạm tội, chứng tỏ các bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, trật tự công cộng xã hội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc loại giản đơn, các bị cáo đều thống nhất cùng nhau đánh bạc nên vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau. Đối với Hoàng Trung T có nhân thân xấu, Chu Đức Gu L sau khi phạm tội đã bỏ trốn và bị truy nã do đó cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn, tỏ rõ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Đối với Hoàng Trung T quá trình sinh sống tại địa phương có công giúp đỡ cơ quan điều tra Công an huyện KS phát hiện tội phạm; gia đình bị cáo có công với cách mạng (bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, bố mẹ được tặng hưởng huân chương kháng chiến) đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình phạt.

Đối với Chu Đức Gu L quá trình sinh sống tại địa phương có công giúp đỡ cơ quan điều tra Công an huyện KS phát hiện tội phạm; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, t khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần xử phạt bị cáo mức án bằng thời gian đã tạm giam bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm. Do thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam cần trả tự do ngay tại phiên tại phiên tòa cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Đối với Nguyễn Trung B và Chu Văn M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo M có bố là người có công với các mạng được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS). Xét thấy, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, chỉ cần xử phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ nghiêm.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét các bị cáo trong vụ án đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 02 bộ bài tu lơ khơ, mỗi bộ bài có 52 quân bài là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy. Vật chứng có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đối với số tiền 20.690.000 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 36.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Trung B, 4.000.000 đồng thu giữ của Chu Đức Gu L và 15.760.000 đồng thu giữ của Hoàng Trung T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho các bị cáo.

Tiền hiện có tại tài khoản tạm giữ Kho bạc nhà nước tỉnh Nghệ An theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số HD 071020.0003.0108 ngày 07/10/2020.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Trung T, Chu Đức Gu L, Nguyễn Trung B, Chu Đức M phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Hoàng Trung T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2020 đến ngày 30/11/2020.

Áp dụng: khoản 1, Điều 321; điểm i, s, t khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 5, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Xử phạt: Chu Đức Gu L 03 (ba) tháng 10 (mười) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2020.

Trả tự do ngay tại phiên tại phiên tòa cho bị cáo Chu Đức Gu L, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Trung B 25.000.000, đồng

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Chu Đức M 25.000.000, đồng

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài Tu lơ khơ, mỗi bộ có 52 quân bài. Vật chứng có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK số 2021/113 ngày 26 tháng 01 năm 2021.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 20.690.000 đồng (Hai mươi triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo.

Tuyên trả cho Nguyễn Trung B số tiền 36.000.000 đồng; Trả cho Chu Đức Gu L số tiền 4.000.000 đồng; Trả cho Hoàng Trung T số tiền 15.760.000 đồng.

Số tiền này hiện có tại tài khoản tạm giữ Kho bạc nhà nước tỉnh Nghệ An theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số HD 071020.0003.0108 ngày 07/10/2020.

Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Hoàng Trung T, Chu Đức Gu L, Nguyễn Trung B, Chu Đức M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333; 334 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ