- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; luật tồ tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy gồm
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HS-ST Ngày: 30-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng;
2/ Ông Nguyễn Phú Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2021/TLST-HS, ngày 09 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2021/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1991 tại Đồng Tháp; h khẩu thư ng tr : ấp BT, xã BT, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: công nhân; trình đ học vấn: 7/12; cha: Nguyễn Văn O; mẹ: Lâm Thị C; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Tiền sự: Không; bắt truy n : 26/11/2020. Tạm giam ngày 29/11/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 gi , ngày 22/5/2020, Nguyễn Văn D cùng Phạm Văn V, cùng uống rượu tại nhà D, Sau khi uống rượu D nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên nh bạn (không rõ họ tên và địa chỉ) mua dùm 500.000 đồng ma túy. Mua được ma túy, D lấy m t phần cho mình sử dụng, phần ma túy còn lại cất giữ trong túi quần phía trước và cất đồ dùng ma túy trong túi áo khoác. D điều khiển xe môtô của Võ Văn T chở Vàng đi đến thành phố Cao Lãnh uống nước cùng với Nguyễn Giang N. Khoảng 20 gi 25 phút cùng ngày, V điều kiển xe chở D và Nam về nhà D, khi đến đoạn đư ng Quốc l 30 thu c tổ A, ấp B, xã C, thành phố Cao Lãnh thì bị Công an thành phố Cao Lãnh tiến hành kiểm tra bắt quả tang D có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma t y” và tiến hành lập biên bản thu giữ các đồ vật như sau:
Thu trên ngư i Nguyễn Văn D: Trong túi quần bên phải phía trước có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Văn D; 01 b dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình bằng nhựa màu trắng, nắp màu đỏ khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn đoạn ống hút nhựa, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa gas tự chế; 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Mobell.
Ngày 23/5/2020, tiến hành kiểm tra xác định tình trạng sử dụng ma túy của D kết quả dương tính với chất ma túy loại Methanphetamine.
Theo kết luận giám định số 36/K -KTHS ngày 2 /5/2020 của hòng k thuật hình sự C ng an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 ịch nylon hàn kín, được niên phong trong phong ì gửi giám định là chất ma t y, có tổng khối lượng 0,1 6 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,119 gam.
Tại cáo trạng số 20/CT-VKSTPCL, ngày 09/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo về t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”, t i phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như trên. Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Về vật chứng đề nghị tuyên như cáo trạng đ nêu.
Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị không áp dụng phạt bổ sung.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm t i, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi của bị cáo bị truy tố: Bị cáo D là ngư i nghiệm ma t y nên đ mua 500.000 đồng ma t y loại Methamphetamine để sử dụng. c 20 gi 25 phút, ngày 22/5/2020, tại Quốc l 30 thu c tổ A, Ấp B, xã C, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, C ng an thành phố Cao nh ắt quả tang D đang tàng trữ 0,1 6 gam, loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm t i phù hợp với vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đ thực hiện đ ng theo quy định của B luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đ thực hiện đ ng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.
Bị cáo là ngư i đ thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo đ thực hiện hành vi cất dấu 0,176 gam ma t y loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là cố ý xâm phạm trực tiếp đến chính sách đ c quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã h i.
Từ những căn cứ nêu trên, H i đồng xét xử kết luận hành vi phạm t i của bị cáo đ phạm vào t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”, t i phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 B luật Hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm t i, bị cáo nhận thức rất rõ ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã h i khác, ảnh hưởng rất lớn đến đ i sống của mỗi con ngư i, mỗi gia đình và tòan x h i. Chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo đ ất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra cho xã h i. Do đó cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức đ nguy hiểm cho xã h i của hành vi phạm t i mà bị cáo đ thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành ngư i công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã h i.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm t i có thái đ thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 luật Hình sự.
Về vật chứng, căn cứ khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy chất ma túy và các vật dụng dùng để sử dụng ma túy gồm Chất ma túy còn lại sau giám định 0,119 gam loại Methanphetamine niêm phong trong; 01 b dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình bằng nhựa màu trắng, nắp màu đỏ khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn đoạn ống hút nhựa, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa gas tự chế.
Về hình phạt tiền: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng phạt bổ sung.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/U TVQH1 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thư ng vụ Quốc h i.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (m t) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 B luật tồ tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy gồm: Chất ma túy còn lại sau giám định 0,119 gam loại Methanphetamine niêm phong trong; 01 b dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình bằng nhựa màu trắng, nắp màu đỏ khoét 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn đoạn ống hút nhựa, 01 lỗ gắn nỏ thủy tinh; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa gas tự chế.
Vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao nh tạm quản lý.
Về án phí: Bị cáo D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL; - Công an TPCL; - ưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Tấn Hiếu |