vanban.org

Bản án 30/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vương T phạm tội tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. 1.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vương T phạm tội tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. 1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/HS-ST
Ngày: 26-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nghiêm Thị Xuân Huê

Ông Nguyễn Đình Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Trà – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Vương T; Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1997 tại tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp Đ, xã Hồ Đắc Kiện, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị D; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08 tháng 6 năm 2020 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 123/QĐ-TA của Tòa án nhân dân Quận 1; Bị bắt tạm giam ngày 30 tháng 10 năm 2020. (Có mặt)

Bị hại: Bà Phan Thụy Thanh V, sinh năm 2000; Địa chỉ cư trú: Phòng số 6, chung cư số 35 đường Trần Triệu Luật, Phường 7, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 02 năm 2020, Nguyễn Vương T quen người bạn tên M (không rõ lai lịch) tại tiệm game trên đường Kênh Tân Hóa, Quận 11. Thấy T không có việc làm nên M đã giới thiệu cho T việc nhận cất giữ xe mô tô do trộm cắp mà có rồi giao cho khách hàng để được trả công 500.000 đồng/01 xe. Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 11 tháng 3 năm 2020, T nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0817xxx056 nói là người quen của M và hẹn T đến trước nhà số 09 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, Quận 1 nhận 01 xe mô tô do trộm cắp mà có đem đi cất giữ. T đến nơi thì thấy xe mô tô hiệu Suzuki, loại Raider, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 59 P2 - 910.71 dựng sẵn trên vỉa hè, có chìa khóa cắm sẵn. Lúc này, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đứng cách 100 mét chỉ tay về phía xe ra hiệu T đem đi. T kiểm tra xe thì thấy trong cốp xe có để sẵn 500.000 đồng nên đã điều khiên xe đến bãi giữ xe số X đường Lũy Bán Bích, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú giao cho anh Nguyễn Tây S giữ. Đến khoảng 15 giờ ngày 12 tháng 3 năm 2020, T đi cùng Phạm Vi P đến trước số X đường Tân Hòa Đông, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, thì bị tổ tuần tra Công an quận Bình Tân kiểm tra phát hiện trong người T có phiếu giữ xe biển kiểm soát 91071 giống với xe của chị Phan Thụy Thanh V bị mất trộm tại trước số X Điện Biên Phủ, phường Đa Kao, Quận 1 nên tổ tuần tra đã đưa T về trụ sở Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân làm rõ. Sau đó, Công an quận Bình Tân đã tiến hành thu hồi vật chứng và giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xử lý theo thẩm quyền. Theo Kết luận định giá tài sản số 67/KL-KLĐĐGTS ngày 18 tháng 4 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Raider, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 59 P2 - 910.71 trị giá 40.500.000 đồng. Vật chứng vụ án: 01 thẻ giữ xe số 91071 (kèm theo hồ sơ vụ án); 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Raider, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 59 P2 - 910.71. Thu giữ của Nguyễn Vương T: 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo. Bản cáo trạng số 14/CT-VKSQ1 ngày 14 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Vương T về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Vương T về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Vương T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù; Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Vương T khai nhận đã có hành vi nhận cất giữ xe mô tô hiệu Suzuki, loại Raider, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 59P2-910.71 dù biết xe trên là do trộm cắp được mà có nhằm hưởng lợi 500.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo Nguyễn Vương T về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân gây mất trật tự, an toàn xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật, có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

Về các biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Vương T nộp 500.000 đồng là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự. [9] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét. [10] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Suzuki, loại Raider, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 59 P2 - 910.71 đã trả lại cho chị Phan Thụy Thanh V nên Hội đồng xét xử không xem xét; Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án 01 thẻ giữ xe số 91071; Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo thu giữ của Nguyễn Vương T xét đây là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. [11] Về các vấn đề khác: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách vụ án để giải quyết riêng đối với đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp xe và đối tượng tên Minh giới thiệu việc giữ xe do trộm cắp mà có cho Tiễn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét. [12] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vương T phạm tội tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. 1. Áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vương T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 10 năm 2020; Phạt bị cáo 5.000.000 đồng. 2. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Vương T nộp 500.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. 3. Áp dụng các khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án 01 thẻ giữ xe số 91071; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo 1906, màu xanh, số Imei1: 861325044171634, số Imei2: 861325044171626 (Theo Lệnh nhập kho đồ vật, tài liệu số 104/LNK-ĐCSHS ngày 18 tháng 8 năm 2020 của Công an Quận 1). 4. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Vương T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ