- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Bùi Văn C - tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HS-ST Ngày 13-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình,
Ông Nguyễn Văn Nhòng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Bùi Văn C, sinh ngày 25/3/19xx tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 19xx và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 19xx; có vợ là Hồ Thị T, sinh năm 19xx và 03 con (con lớn sinh năm 20xx, con nhỏ sinh năm 20xx); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày10/8/2021 đến ngày 16/8/2021 chuyển tạm giam đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hồ Thị T, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy loại Heroine từ năm 2010 và Methamphetamine từ năm 2017 nên tối ngày 09/8/2021, Bùi Văn C điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 16M4-6615 đến khu vực đường tàu thuộc Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng và 01 túi ma túy Methamphetamine với giá 400.000 đồng của người phụ nữ không quen biết. Sau đó, C cầm số ma túy đi đến chân cầu Niệm thuộc quận Kiến An, lấy một phần ma túy loại Heroine ra sử dụng, số ma túy còn lại C quấn vào túi nilon màu hồng cầm ở tay phải rồi đi về nhà. Đến 12 giờ ngày 10/8/2021, C cầm theo số ma túy trên và điều khiển xe mô tô đi trên đường 212 thuộc Khu 7, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng để tìm địa điểm sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an huyện Tiên Lãng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay phải của C 01 túi nilon màu trắng và 01 túi nilon được quấn bằng túi nilon màu hồng đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 01); 01 túi nilon màu hồng bên trong có 02 gói giấy bạc đều chứa chất bột màu trắng (mẫu số 02) và xe môtô Biển kiểm soát 16M4-6615.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn C, nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 486/KLGĐ ngày 03/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự C an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,33 gam, là loại Methamphetamine; chất bột màu trắng của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,10 gam, là loại Heroine”. Kết quả xét nghiệm của Cơ sở Cai nghiện ma túy số 02 Hải Phòng, kết luận Bùi Văn C dương tính với ma túy, loại MET, MDMA, MOP.
Theo Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của công an huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, thì xe mô tô Biển kiểm soát 16M4-6615 mang tên Đỗ Văn C ở số nhà 15/52 Miếu 2 xã, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Kết luận giám định số 835/KLGĐ ngày 03/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự C an thành phố Hải Phòng kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA mang Biển kiểm soát 16M4-6615, có số khung: RLCN2B5206Y119777 và số máy: 2B52-119777 là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa, sửa chữa”.
Tại cơ quan điều tra, C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; thừa nhận do nghiện ma túy nên C đã lấy và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 16M4-6615 của vợ là chị Hồ Thị T đến khu vực đường tàu thuộc Quận Lê Chân mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng và 01 túi ma túy Methamphetamine với giá 400.000 đồng. Việc C sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 16M4-6615 đi mua ma túy, C không nói cho chị T biết.
Ông Đỗ Văn C khai, ông mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Biển kiểm soát 16M4-6615 và bán cho anh Phạm Văn TuY, sinh năm 1982 ở thôn Đ, xã T, huyện T, nhưng chưa làm thủ tục sang tên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hồ Thị T khai, xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Biển kiểm soát 16M4-6615 là của chị mua lại từ anh TuY, với giá 1.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đây là phương tiện chị thường xuyên sử dụng để đi làm, cũng là phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình chị. Vì ngày 10/8/2021, chị T không sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi làm nên C đã sử dụng làm phương tiện đi lại, chị T không biết C sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 16M4-6615 để đi mua ma túy.
Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 09/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã truy tố C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố Bùi Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt chính: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt C từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 486MT/PC09 chứa mẫu vật còn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lãng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng; Điều tra viên Công an huyện Tiên Lãng; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp có trong hồ sơ vụ án đều đảm bảo hợp pháp; được thu thập, cung cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lãng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và hình phạt:
Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sự phù hợp đó thể hiện: Bùi Văn C là người sử dụng ma túy loại Heroine ma túy từ năm 2010, năm 2017 C vừa sử dụng Heroine vừa sử dụng ma túy đá (Methamphetamine). Do có nhu cầu sử dụng nên khoảng 22 giờ ngày 09/8/2021, C mua và cất giấu 0,33 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,10 gam ma túy loại Heroine, tổng trọng lượng 02 loại ma túy trên là 0,43 gam để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; làm suy thoái đạo đức, lối sống; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm và tệ nạn xã hội khác.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Để có tác dụng tích cực trong việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, Hội đồng xét xử phạt tiền bổ sung đối với bị cáo bằng mức thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, không xác định được danh tính người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo vào tối ngày 09/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách ra để điều tra xử lý sau.
Về vật chứng: Xét thấy, 01 phong bì niêm phong số 486MT/PC09 bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 16M4-6615, được xác định là tài sản của chị T, Cơ quan điều tra đã trả lại chị T, chị T không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:ho
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bùi Văn C 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/8/2021.
Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, phạt Bùi Văn C 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 486MT/PC09 chứa mẫu vật còn lại sau giám định có đặc điểm như biên bản bàn giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo Điểu 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Tiên Lãng; - Cơ quan Điều tra, Thi hành án hình sự - C an huyện Tiên Lãng; - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng; - Trại giam; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Huyền Trang |