vanban.org

Bản án 30/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 15/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn B 02 (Hai) năm 03 (B) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/01/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Tuấn B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:30/2021/HS-ST
Ngày 15-4-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Quang Yên;

2. Bà Nguyễn Thị Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2020/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 4 năm 2021, đối với:

Bị cáo Nguyễn Tuấn B, sinh ngày 01/01/1987; tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ A, thị trấn Quỳnh Côi, huyện P, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công S (đã chết) và bà: Vũ Thị T, sinh năm 1963; vợ: Lê Phương T, sinh năm 1986; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 05/01/2021, đến ngày 08/01/2021 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Bình

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1990; địa chỉ: Đ, xã H, huyện P, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt anh C)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 15 phút ngày 05/01/2021, tại nhà ở của Nguyễn Tuấn B, tổ Công tác Công an huyện P phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tuấn B có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức C. Tổ công tác kiểm tra người C, phát hiện quản lý trong lòng bàn tay trái C 01 gói nhỏ nghi là ma túy có đặc điểm, ngoài là mảnh vỏ Bo thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. C khai đó là ma túy vừa mua của B với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân (được niêm phong trong phong bì ghi M1). Kiểm tra người B, tổ công tác đã phát hiện, quản lý tại túi quần bên phải phía trước B mặc 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, B khai là tiền vừa bán 01 gói ma túy cho C có được. Đồng thời B tự nguyện giao nộp 01 gói ma túy có đặc điểm giống gói ma túy quản lý của C, được giấu trong găng tay bên trái đang đeo (được niêm phong trong phong bì ghi M2), B khai dùng để bán kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong các vật chứng thu giữa của C, B.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tuấn B, không phát hiện, quản lý đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định 06/KLGĐMT-PC09 ngày 07/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:

“Vật chứng M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,0307 gam (Không phẩy không nghìn B trăm linh bảy gam);

Vật chứng M2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,0273 gam (Không phẩy không nghìn hai trăm bảy mươi B gam)

Hêrôin STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 02/01/2021, B đi xe khách từ thị trấn Q đến bến xe huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Tới nơi B gặp và hỏi mua của người đàn ông không quen biết 05 gói ma túy có đặc điểm tương tự nhau, ngoài gói bằng mảnh vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, trong là chất bột màu trắng dạng cục với số tiền 500.000 đồng. Mua xong, B cất giấu số ma túy trên trong người rồi bắt xe khách đi về. Từ ngày 02 đến ngày 04/01/2021, mỗi ngày B sử dụng 01 gói. Ngày 05/01/2021, B giấu 02 gói ma túy còn lại vào trong găng tay trái đang đeo. Đến khoảng 15 giờ 15 phút, B đang nằm ở nhà thì Nguyễn Đức C là bạn nghiện đến hỏi mua 01 gói ma túy, B đồng ý bán cho C với giá 200.000 đồng. C đưa cho B 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, B cầm tiền cho vào túi quẩn bên phải rồi lấy 01 gói ma túy giấu trong găng tay bên trái đưa cho C. C cầm gói ma túy bằng bàn tay trái thì bị tổ công tác Công an huyện P phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức C khai: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 05/01/2021 tại nhà ở của Nguyễn Tuấn B, anh có hỏi và mua của B 01 gói Hêrôin với giá 200.000 đồng, anh đưa tiền cho B, B đưa cho anh 01 gói Hêrôin, anh đang cầm ở bàn tay trái thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSQP ngày 16/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Tuấn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Tuấn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/01/2021, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, rất ân hận về hành vi mà mình đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận đã đi mua ma túy về để sử dụng và bán để kiếm lời, bị cáo vừa bán cho Nguyễn Đức C 01 gói ma túy thu về 200.000 đồng, thì bị phát hiện bắt giữ. Bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng do Công an huyện P lập ngày 05/01/2021, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người chứng kiến, bản kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 05/01/2021, tại nhà ở của Nguyễn Tuấn B ở Tổ A, thị trấn Quỳnh Côi, huyện P, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Tuấn B đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Đức C 01 gói ma túy loại Hêrôin có khối lượng 0,0307 gam (Không phẩy không nghìn B trăm linh bảy gam) thu số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Tuấn B còn tàng trữ trái phép trong găng tay bên trái đang đeo: 01 gói Hêrôin có khối lượng 0,0273 gam (Không phẩy không nghìn hai trăm bảy mươi B gam) với mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng Hêrôin mà Nguyễn Tuấn B bán trái phép và tàng trữ để bán trái phép kiếm lời là 0,0580 gam (Không phẩy không nghìn năm trăm tám mươi gam). Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Tội mua bán trái phép chất ma túy

“ 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

…….

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.0000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Tệ nạn ma túy đang là mối quan tâm, nhức nhối của toàn xã hội, ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, làm phát sinh đại dịch HIV/AIDS và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng vì nghiện ma túy và hám lời nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật với mức án tương xứng hành vi bị cáo đã gây ra, việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để chấp hành hình phạt là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo như mức mà Viện kiểm sát đề nghị cũng có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo phạm tội với động cơ thu lời bất chính nhưng bị cáo nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn lại bị nhiễm HIV nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

Đối với anh Nguyễn Đức C người đã mua ma túy của bị cáo, do anh C chưa có tiền án, tiền sự về ma túy, khối lượng ma túy anh C mua của bị cáo Nguyễn Tuấn B chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện P, tỉnh Thái Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh C là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy và của Nguyễn Đức C 01 gói ma túy đều là Hêrôin, loại ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Đối với số tiền 200.000 đồng do bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Đức C là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước. Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn B 02 (Hai) năm 03 (B) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/01/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn B do bán ma túy cho Nguyễn Đức C mà có (được niêm phong trong phong bì).

3.2. Tuyên tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trà mẫu vật giám định.

(Các vật chứng đều được niêm phong trong phong bì, có đặc điểm chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Bình ngày 15/3/2021).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Bn Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Tuấn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ