- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quý T và Đặng Nho T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HS-ST Ngày: 05-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư.
2. Bà Phạm Thị Lan Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2021/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Qúy T. Tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 3 năm 1996 tại Bắc Kạn; giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Đăng ký HKTT tại thôn N, xã N, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; con ông Đặng N (sinh năm 1968, đã chết) và bà Hoàng Thị T (sinh năm 1970). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2020, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
2. Họ và tên: Đặng Nho T. Tên gọi khác: Không; sinh ngày 03 tháng 2 năm 1997 tại Bắc Kạn; giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Đăng ký HKTT tại thôn N, xã N, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; con ông Đặng Nguyên P (sinh năm 1971) và bà Lý Thị M (sinh năm 1971). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2020, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962. Địa chỉ: Xóm Yên T, xã Yên L, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 22/12/2020, tại xóm M, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Công an huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang Đặng Quý T và Đặng Nho T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng vụ án thu giữ: Thu trong túi quần dài bên trái phía trước đang mặc trên người của T có 01 gói chất bột màu trắng nghi là Heroine. T và T khai là Heroine tàng trữ để sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1. Thu giữ của T 01 xi lanh nhựa loại 3ml, 01 Chứng minh thư nhân dân, 01 đăng ký xe mô tô BKS 97B1 - 930.11, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Đặng Nho T, 01 xe mô tô BKS 97B1 - 930.11.
Cùng ngày, tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở bì niêm phong ký hiệu T1 thu giữ của T, T cân được khối lượng là 0,494 gam, niêm phong T bộ ký hiệu A1 để giám định.
Tại Kết luận giám định số 95/KL-KTHS ngày 30/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý loại Heroine, có khối lượng là 0,494 gam.
Quá trình điều tra, Đặng Quý T và Đặng Nho T khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/12/2020, T một mình điều khiển xe mô tô BKS 97B1-930.11 đến nhà T chơi. Tại đây, T rủ T đi mua ma tuý về cùng sử dụng. T đồng ý điều khiển xe mô tô chở T cùng đi mua ma tuý. T có hỏi T là mua bao nhiêu tiền, T trả lời là 900.000 đồng. T chở T đi đường Chợ Mới – Thái Nguyên, qua khu vực Cầu Cạn khoảng 01km thuộc xã Yên L, huyện Phú Lương thì gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi đang đứng ở lề đường nhựa. T dừng xe cạnh người nam giới, T xuống xe và hỏi mua 900.000 đồng tiền ma tuý loại Heroine. Người nam giới đồng ý cầm tiền và đưa cho T 01 gói ma tuý. T cất giấu gói ma tuý vào túi quần dài bên trái đang đang mặc và lại ngồi sau xe T để đi về. Khi đến đoạn đường thuộc xóm M, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, T dừng xe ở lề đường thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ T bộ vật chứng. Lời khai của Đặng Quý T, Đặng Nho T phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định...
Cáo trạng số 14/CT-VKSPL ngày 11 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T đều đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, xác định tàng trữ 0,494 gam ma túy loại Heroine trong người với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
- Căn cứ điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Quý T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Đặng Nho T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về vật chứng, đề nghị xử lý theo pháp luật.
- Về án phí và quyền kháng cáo, các bị cáo phải chịu án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận, xác định việc khởi tố, truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nói lời sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng anh Nguyễn Văn T vắng mặt. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của anh T, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Quá trình điều tra, người chứng kiến không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia nên việc vắng mặt anh Tiến tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến là anh Nguyễn Văn T theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định: Hồi 15 giờ 00 phút, tại xóm M, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Đặng Quý T và Đặng Nho T đã có hành vi cất giữ trên người 0,494 gam ma tuý loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an huyện Phú Lương phát hiện, bắt quả tang, thu giữ T bộ vật chứng.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương lập; Kết luận giám định số 95/KL-KTHS ngày 30/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.
Hành vi tàng trữ 0,494 gam Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo T, T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Điều luật quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c, Heroine …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi của các bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho đời sống kinh tế cũng như đạo đức xã hội, là nguồn gốc nảy sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được tác hại của ma túy và hậu quả của việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội.
Trong vụ án, bị cáo Đặng Quý T là người rủ bị cáo Đặng Nho T mua ma túy về cùng sử dụng, trực tiếp giao dịch mua 0,494 gam ma túy bằng tiền của mình. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…..” . Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, bị cáo đang bị tạm giam nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; cả hai bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về vật chứng:
- Cần tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,481 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Đặng Qúy T và Đặng Nho T;
+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và vỏ giấy gói;
+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2, bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa loại 03ml.
- Trả lại cho bị cáo T:
+ 01 xe mô tô BKS: 97B1 - 930.11 loại xe HONDA WAWE màu sơn đen bạc, số khung 3919LY025726, số máy JA39E1359850, xe đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu;
+ 01 (một) chứng minh thư nhân dân số 095234504 mang tên Đặng Nho T; 01 (một) giấy phép lái xe số 060164003413 mang tên Đặng Nho T; 01 (một) đăng ký xe số 065225, BKS: 97B1 - 930.11 mang tên Đặng Nho T.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đặng Quý T, Đặng Nho T, do các bị cáo khai không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về án phí: Bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương là có căn cứ chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; các điều 106, 292, 299, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Đặng Quý T 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2020.
Xử phạt: bị cáo Đặng Nho T 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2020.
Quyết định tạm giam các bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,481 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Đặng Qúy T và Đặng Nho T;
+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu T1 và vỏ giấy gói;
+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2, bên trong có 01 (một) xi lanh nhựa loại 03ml.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Nho T:
+ 01 xe mô tô BKS: 97B1 - 930.11 loại xe HONDA WAWE màu sơn đen bạc, số khung 3919LY025726, số máy JA39E1359850, xe đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu;
+ 01 (một) chứng minh thư nhân dân số 095234504 mang tên Đặng Nho T; 01 (một) giấy phép lái xe số 060164003413 mang tên Đặng Nho T; 01 (một) đăng ký xe số 065225, BKS: 97B1 - 930.11 mang tên Đặng Nho T.
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương ngày 26 tháng 4 năm 2021.
3. Về án phí: Bị cáo Đặng Quý T, Đặng Nho T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Phú Lương; - CQCSĐT Công an huyện Phú Lương; - Chi cục THADS huyện Phú Lương; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Khánh |