vanban.org

Bản án 30/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Đ 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Phan Thị Đ cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Đ - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/HS-ST
Ngày: 29-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Phạm Phước Tâm.

2- Ông Phan Quốc Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án huyện Cao Lãnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 và Thông báo số 04/TA-TB ngày 23 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thị Đ. Sinh năm: 1970; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ấp Đông Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Phan Văn Be (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Cẩm (đã chết); Chồng, con: Không có; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Tiền sự: Vào ngày 19/01/2021, bị Công an xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, đã nộp phạt xong; Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Hà Tuyết V, sinh năm 1972 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Đông Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

2/ Đỗ Thị Tuyết V, sinh năm 1975 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Mỹ Hưng Hoà, xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

3/ Trần Thị Kim L, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Đông Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

4/ Trần Vũ P, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Đông Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

5/ Trần Văn T, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Đông Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 02/4/2021, Phan Thị Đ, Trần Thị Kim L, Đỗ Thị Tuyết V, Trần Văn T, Trần Vũ P cùng nhau đánh bài ăn thua bằng tiền, tại phía sau nhà bếp của bà Hà Tuyết V ngụ ấp Đông Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, hình thức chơi bài binh 06 lá, các tụ làm cái xoay vòng, mỗi bàn đặt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng. Trong lúc bị cáo Đúm đang chia bài (làm cái) thì bị Công an xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh bắt quả tang. Tang vật thu giữ trên chiếu bạc gồm số tiền 850.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá. Thu giữ trên người của bị cáo Đúm số tiền 120.000 đồng, của bà Trần Thị Kim L số tiền 100.000 đồng, Đỗ Thị Tuyết V số tiền 300.000 đồng. Sau đó hồ sơ được chuyển đến công an huyện Cao Lãnh xử lý theo thẩm quyền.

Trong quá trình điều tra xác định: Phan Thị Đ mang theo số tiền 220.000 đồng dùng để đánh bạc, trong quá trình chơi thua hết 100.000 đồng còn lại 120.000 đồng thì bị Công an bắt và thu giữ. Do ngày 19/01/2021 bị cáo Đúm đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nay lại tái phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lãnh khởi tố bị can để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với Trần Thị Kim L, Đỗ Thị Tuyết V, Trần Văn T, Trần Vũ P thừa nhận tham gia đánh bài ăn tiền, tiền dùng đánh bài để trên chiếu bạc để chung chi nên bị Công an thu giữ. Tuy nhiên, số tiền dùng để đánh bạc lúc bắt quả tang là 850.000 đồng và số tiền thu giữ trên người các đối tượng không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên Công an huyện Cao Lãnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và trả lại số tiền đã thu giữ trên người mà không dùng vào việc đánh bạc.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phan Thị Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai những người có liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số 35/CT-VKSHCL ngày 10/9/2021 của Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Phan Thị Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Căn cứ Điều 321 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Đ với mức án từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Đúm là người bị khuyết tật bẩm sinh, không nghề nghiệp ổn định và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 970.000 đồng (Trong đó 850.000 đồng thu trên chiếu bạc và 120.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Đúm đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc).

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá.

- Về trách nhiệm dân sự: Không có.

* Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng là bị cáo đã rất hối hận về hành vi của bị cáo, bị cáo cam kết sẽ không tái phạm, bản thân bị cáo bị khuyết tật bẩm sinh ở chân nên việc đi lại khó khăn, hiện bị cáo đang nuôi cha dượng lớn tuổi, ngoài ra gia đình không còn ai sống chung nên bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được ở nhà để bị cáo nuôi cha già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phan Thị Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 35/CT-VKSHCL ngày 10/9/2021 của Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính thì bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền cùng với Trần Thị Kim L, Đỗ Thị Tuyết V, Trần Văn T, Trần Vũ P thì bị bắt quả tang với số tiền dùng để đánh bạc là 970.000 đồng (trong đó 850.000 đồng thu trên chiếu bạc và 120.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Đúm đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc). Xảy ra vào lúc 14 giờ ngày 02/4/2021 tại nhà Hà Tuyết V tọa lạc ấp Đông Mỹ, xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Phan Thị Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như sau:

“1/ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bản thân bị cáo là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm. Đáng lý ra, khi bị Công an xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 19/01/2021 với số tiền phạt là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, thì bị cáo phải biết sửa đổi và chấp hành nghiêm quy định của pháp luật. Nhưng ngược lại, do suy nghĩ nông nổi, nghĩ rằng chỗ hàng xóm đánh bạc nhỏ lẻ với nhau mục đích để vui chơi, giải trí lấy tiền mua lẩu cùng ăn sẽ không sao nên bị cáo đã tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền và bị bắt quả tang, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần có một mức hình phạt cho tương xứng với hình vi phạm tội của bị cáo.

Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, nhằm để bị cáo biết sai, sửa sai và giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thật sự tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình của bị cáo thuộc diện khó khăn về kinh tế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, tại phiên tòa bị cáo đã rất hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo và bị cáo cam kết với Hội đồng xét xử sẽ không tái phạm. Đồng thời, bản thân bị cáo bị khuyết tật bẩm sinh ở chân việc đi lại khó khăn và hiện bị cáo đang nuôi cha dượng lớn tuổi. Nhằm thể hiện bản chất nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Đồng thời, xét bị cáo có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và gia đình thuộc diện khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không khấu trừ thu nhập của bị cáo là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không đặt vấn đề xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và hoàn cảnh gia đình thuộc diện khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Đối với số tiền 970.000 đồng (trong đó 850.000 đồng thu trên chiếu bạc và 120.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Đúm) đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 bộ bài tây 52 lá là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Đối với chị Hà Tuyết V có hành vi cho người khác đánh bài ăn thua bằng tiền tại nhà của mình, nhưng chưa cấu thành tội phạm nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Cao Lãnh đã ra quyết định xử lý hành chính đối với chị Vân là phù hợp theo quy định pháp luật.

Đối với những đối tượng cùng tham gia đánh bạc với bị cáo gồm Trần Thị Kim L, Đỗ Thị Tuyết V, Trần Văn T, Trần Vũ P đã bị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp theo quy định pháp luật do hành vi đánh bạc của các đối tượng này chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Đ 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Phan Thị Đ cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Phan Thị Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 99 của Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Phan Thị Đ.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền dùng vào việc đánh bạc là 970.000 đồng (Trong đó 850.000 đồng thu trên chiếu bạc và 120.000 đồng thu giữ trên người bị cáo Đúm).

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang tạm quản lý các tài sản, vật chứng nêu trên)

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Thị Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ