vanban.org

Bản án 30/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 26/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trương Văn K 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/02/2020.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trương Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Trương Văn K đã nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn K - Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trương Văn K 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/02/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/HS-PT
Ngày 26-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tuấn.

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Mai Hoa;

Ông Nguyễn Xuân Trường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vững - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 04 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2021/TLPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Trương Văn K do có kháng cáo của bị cáo Trương Văn K đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 26-01-2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

Trương Văn K, sinh năm 1990; nơi sinh, nơi đăng ký thường trú, nơi sinh sống: Thôn Nhất Sơn, phường Thái Thịnh, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Khanh và bà Nguyễn Thị Thoa; có vợ là Nguyễn Thị Huệ và hai con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 25/02/2020 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Triệu Thị Ngọc P, sinh năm 1999; nơi cư trú: Bản Pà Han, Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khu Phố Ga, thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

2. Anh Phạm Thế T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khu Tử Lạc, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Mão, sinh năm 1963; nơi cư trú: Khu Phố Ga, thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn K và chị Triệu Thị Ngọc P có quan hệ tình cảm nam nữ từ năm 2018. Cuối năm 2019, giữa K và chị P xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 18 giờ ngày 22/02/2020, chị P đi xe khách từ Hà Nội về đến quán nước của bà Nguyễn Ngọc S ở khu phố Ga, thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Sau đó, chị P gọi điện thoại hẹn gặp K để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn về tình cảm. K điều khiển xe mô tô biển số 15G1-326.74 đi từ nhà nghỉ Hoàng Phố ở phường Hiệp Sơn, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đến dựng xe ở cửa quán nước của bà Sáu, rồi đi vào trong quán ngồi đối diện với chị P tại bàn uống nước. K nói: Thế bây giờ ý mày thế nào, có yêu tiếp hay thôi, nếu không yêu nhau nữa thì những đồ tao mua cho mày, mày trả hết lại cho tao (do trước đó K đã mua tặng chị P một số đồ vật như quần áo, giầy dép, túi xách... có tổng trị giá khoảng 6.000.000 đến 7.000.000 đồng). Chị P nói sẽ trả K trước 5.000.000 đồng, số tiền còn lại một tháng sau sẽ trả nốt. K không đồng ý cho chị P trả bằng tiền mà yêu cầu chị P phải trả bằng đồ vật K đã tặng. Sau đó, K và chị P cãi nhau, K cầm chai nước lọc Lavie loại 500ml vỏ nhựa đang uống, còn lại một ít nước bên trong ném vào đầu chị P (không để lại thương tích). Tiếp đến, K dùng tay phải cầm chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus 32Gb còn tay trái cầm chiếc túi xách bằng da, bên trong có chiếc điện thoại di động OPPO A5 và số tiền 9.952.000 đồng, đều là tài sản của chị P đang để ở trên mặt bàn uống nước đi về phía chiếc xe mô tô K dựng trước cửa quán. Thấy vậy, chị P liền chạy theo túm vào chiếc túi xách để giằng lại thì K đẩy chị P ngã xuống nền quán trong tư thế nằm nghiêng về bên phải, sau đó K dùng chân đá hai cái vào cánh tay trái của chị P làm chị P bị gãy kín cổ xương cánh tay trái. K giơ chân định tiếp tục đá chị P để ngăn cản không cho chị P lấy lại tài sản thì bà Sáu đi đến can ngăn. K đi ra cửa quán để chiếc túi xách vào trong cốp xe và cho chiếc điện thoại Iphone 6 Plus của chị P vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 15G1-326.74 về nhà nghỉ Hoàng Phố. Khoảng 15 phút sau, chị P mượn điện thoại của bà Sáu gọi điện cho K xin lại số tài sản bị chiếm đoạt, K không đồng ý. Sau đó, K gọi điện thoại chỉ dẫn xe taxi đến quán nhà bà Sáu đón chị P về nhà nghỉ Hoàng Phố để gặp K. Khi gặp K, chị P khóc và xin lại tài sản nhưng K không đồng ý. Thấy chị P ôm tay trái kêu đau không cử động được, K đi mua thuốc về xoa bóp cho chị P. Trong lúc K đi mua thuốc, chị P mượn điện thoại di động của một người không quen biết ở nhà nghỉ gọi điện cho bạn là anh Vũ Chí D, sinh năm 1985 ở khu Tử Lạc, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương bảo anh D đến nhà nghỉ Hoàng Phố giúp chị P vì chị P vừa bị đánh và bị chiếm đoạt tài sản. Anh Dân đồng ý và cùng bạn là anh Phạm Thế T cùng đến nhà nghỉ Hoàng Phố. Khi đến nơi, thấy chị P bảo đau ở cánh tay trái nên anh D đưa chị P đến Trung tâm y tế thị xã Kinh Môn khám và được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương điều trị. Anh T ở lại nhà nghỉ gọi điện thoại đến Công an thị xã Kinh Môn - Hải Dương trình báo sự việc. Công an thị xã Kinh Môn đã đến nhà nghỉ Hoàng Phố tiến hành quản lý chiếc xe mô tô biển số 15G1-326.74 cùng toàn bộ tài sản K chiếm đoạt của chị P sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kim Thành ngày 24/02/2020 kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus 32Gb trị giá 3.500.000 đồng; chiếc điện thoại di động OPPO A5 trị giá 2.000.000 đồng; chiếc túi xách bằng da trị giá 150.000 đồng

Tại bệnh án ngoại số 7226 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương thể hiện: chị Triệu Thị Ngọc P (vào viện hồi 23 giờ 21 phút ngày 22/02/2020, ra viện hồi 08 giờ 00 ngày 23/02/2020) bị gãy kín cổ xương cánh tay trái.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích qua hồ sơ số 115/TgT/HS ngày 06/5/2020 của Phòng giám định pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận: chị Triệu Thị Ngọc P bị chấn thương gây gãy kín cổ xương cánh tay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 21%.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 181/20/TgT ngày 18/12/2020, Viện pháp y Quốc gia, kết luận: Hiện không còn dấu vết thương tích bên ngoài. Chị Triệu Thị Ngọc P bị đường rạn ngắn xương sát lồi cầu cánh tay trái. Phù hợp thời điểm xảy ra chấn thương; Vận động khớp vai và cánh tay trái bình thường. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2021, TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn K phạm tội “Cướp tài sản”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Trương Văn K;

Xử phạt bị cáo Trương Văn K 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/02/2020.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo K xác định: Tại phiên tòa, bị cáo từ chối mời người bào chữa là ông Bùi Đức V và ông Nguyễn Bình M, bị cáo xác định tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã suy nghĩ và xác định hành vi cướp tài sản bị TAND huyện Kim Thành xét xử là chính xác, bị cáo chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bản thân đã ăn năn hối cải, tiếp tục bồi thường cho người bị hại.

Chị Triệu Thị Ngọc P khẳng định: Sau khi xét xử sơ thẩm không kháng cáo. Tuy nhiên, chị P có nhiều đơn gửi Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đề nghị xem xét tội danh và hình phạt cho bị cáo. Chị P làm đơn đề nghị với mục đích xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì giữa hai người có tình cảm với nhau. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị P xác định hành vi của bị cáo phạm tội Cướp tài sản là chính xác. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo đã ăn năn hối cải, gia đình bị cáo tiếp tục bồi thường 5.000.000đ cho người bị hại.

- VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu: Từ khi thụ lý, quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng. Xét kháng cáo của bị cáo K: Hành vi của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và cùng với gia đình bồi thường thêm cho người bị hại 5.000.000đ; người bị hại tiếp tục đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn K, sửa bản án sơ thẩm. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 15 tháng tù đến 20 tháng tù so với bản án sơ thẩm để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với các lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 22/02/2020, tại quán nước của bà Nguyễn Ngọc S, ở khu phố Ga, thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, Trương Văn K có hành vi dùng tay, chân đánh chị Triệu Thị Ngọc P gây tổn thương cơ thể cho chị P. Tuy nhiên, việc giám định của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương thông qua hồ sơ và xác định tổn thương của chị P là 21% là chưa đúng quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành giám định lại tại Viện pháp y Quốc gia và xác định chị P bị tổn thương cơ thể 3% là phù hợp quy định của pháp luật và đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bị cáo K có hành vi gây thương tích cho chị P để chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus 32Gb trị giá 3.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động OPPO A5 trị giá 2.000.000 đồng; 01 chiếc túi xách bằng da trị giá 150.000 đồng và số tiền 9.952.000 đồng. Tổng giá trị tài sản K chiếm đoạt của chị P là 15.602.000 đồng. Hành vi của bị cáo K đã bị TAND huyện Kim Thành xét xử về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo K: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng tay cầm chai nước lọc ném vào đầu chị P, dùng tay đẩy ngã chị P, dùng chân đạp, đá chị P để lấy tài sản của chị P là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo K 06 (sáu) năm tù về tội "Cướp tài sản" là phù hợp. Tại cấp sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo ăn năn hối cải và xác định hành vi cướp tài sản bị TAND huyện Kim Thành xét xử là chính xác, bị cáo chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bản thân đã ăn năn hối cải, gia đình bị cáo tiếp tục bồi thường 5.000.000đ cho người bị hại. Người bị hại xác định thương tích bị cáo gây ra không lớn và đã khỏi, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo cùng gia đình nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành thể hiện sự ăn năn, hối cải. Do có tình tiết mới tại giai đoạn phúc thẩm nên HĐXX phúc thẩm giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo K được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn K, sửa bản án sơ thẩm số 06/2021/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo Trương Văn K.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Trương Văn K: Tuyên bố bị cáo Trương Văn K phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn K 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/02/2020.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trương Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Ghi nhận bị cáo Trương Văn K đã nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành theo biên lai số AA/2011/08180 ngày 29/3/2021.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 26/4/2021./.

Cỡ chữ