- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với anh Vũ Ngọc N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N về việc “Ly hôn-Tranh chấp về nuôi con”
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:30/2021/HNGĐ-ST Ngày: 08/7/2021 Vụ án:“ Ly hôn Tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Đê
Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký TAND thành phố Bà Rịa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Bà Vũ Thị Hằng– Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân Gia đình thụ lý số 458/2020/TLST – HNGĐ ngày 31/12/ 2020, về việc “Ly hôn-Tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 21/6/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02/7/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 (có mặt)
HKTT: Số 3360C, tổ 5, khu phố 6, phường Phường N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Nơi cư trú: Tỉnh lộ 52, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Bị đơn: Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1986 (vắng mặt)
HKTT và nơi cư trú: Số 3360C, tổ 5, khu phố 6, phường Phường N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa, chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Vũ Ngọc T có thời gian tìm hiểu khoảng 01 năm thì tiến tới hôn nhân. Đến năm 2011 thì tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường Phường N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay. Thời gian sống ly thân cũng không còn ai quan tâm, lo lắng, chăm sóc cho ai nữa cả. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên chị yêu cầu:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Vũ Ngọc T
- Vê 2con chung: Chị N và anh T có 01 con chung tên là Vũ Thành P, sinh ngày 29/9/2012
Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu P.
Trước đây, chị N yêu cầu anh T cấp dưỡng nôi cháu P mỗi tháng 3.000.000 đồng, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu P.
- Tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết
[2] Bị đơn, anh Vũ Ngọc T đã được Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác yêu cầu anh T đến Tòa để làm việc nhưng anh T không có mặt nên không có ý kiến.
[3] Theo xác minh tại địa phương, nơi chị N và anh T chung sống sau khi kết hôn thì: Vợ chồng chị N, anh T sau khi kết hôn có sống tại hẻm 10, khu phố 6, phường Phường N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Việc mâu thuẫn của chị N, anh T thì địa phương không biết cụ thể nhưng chị N đã không còn ở chung với anh T tại địa chỉ trên và cũng không còn thấy chị N, anh T qua lại gì với nhau nữa.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa:
[4.1] Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
- Về thẩm quyền thụ lý: Đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 35, 39 BLTTDS;
- Về xác định tư cách những người tham gia tố tụng: Thực hiện đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS;
- Về xác minh, thu thập chứng cứ: Tòa đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về tiến hành lấy lời khai của đương sự, tiến hành hòa giải và các thủ tục khác theo đúng quy định BLTTDS;
- Về trình tự thụ lý: Tòa thụ lý đúng theo quy định tại Điều 195,196 BLTTDS;
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án giải quyết đúng theo quy định tại Điều 203 BLTTDS;
- Việc tuân theo pháp luật của HĐXX và Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân thủ đúng quy định của BLTTDS về xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng
[4.2] Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, cho rằng yêu cầu của phía nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về Tố tụng:
Chị Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện “Yêu cầu ly hôn-Tranh chấp về nuôi con” với anh Vũ Ngọc T; anh T có nơi cư trú tại địa chỉ số 3360C, tổ 5, khu phố 6, phường Phường N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 3 Điều 36; khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS, Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền.
Anh Vũ Ngọc T đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mă ̣t nhiều lần không có lý do nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh T
Về nội dung: Chị N, anh T có đăng ký kết hôn vào ngày 29/4/2011, tại UBND phường Phường N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn do chị N xuất trình nên hôn nhân của chị N và anh T là hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của chị N, anh T là hoàn toàn tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật.
Theo chị N thì thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng theo chị N là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hai vợ chồng chị cũng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay. Thời gian ly thân cũng không còn ai quan tâm, lo lắng hay chăm sóc cho ai nữa cả. Nay chị N xác nhận không còn tình cảm gì với anh T nữa nên yêu cầu ly hôn.
Lời khai của chị N phù hợp với xác minh của Tòa, do đó có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn giữa chị N và anh T là có thật. Mâu thuẫn tình cảm giữa chị N và anh T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng chị N cũng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay. Thời gian sống ly thân cũng không ai còn quan tâm, chăm sóc cho ai nữa nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N
Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung tên là Vũ Thành P, sinh ngày 29/9/2012;
Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu P và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu P. Anh T không đến Tòa để làm việc nên không có ý kiến
Xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng đều nhằm mục đích cho con được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần; Cháu P hiện còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, hơn nữa cháu P cũng có nguyện vọng được ở với chị N nên giao cho cháu P cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu P nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu và anh T cũng không đến Tòa làm việc nên HĐXX không xem xét.
Án phí HNST: Chị N phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 BLTTDS
- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 85 Luật Hôn nhân và Gia đình
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N về việc “Ly hôn-Tranh chấp về nuôi con”
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Vũ Ngọc T
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Vũ Ngọc T có 01 con chung tên là Vũ Thành P, sinh ngày 29/9/2012
Giao cháu Vũ Thành P cho chị Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng; Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu P nên HĐXX không xem xét
Anh Vũ Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, trên cơ sở yêu cầu của một hoặc hai bên đương sự hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí HNST: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số TU/2020/0003164 ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án thành phố Bà Rịa, chị N đã nộp xong án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/7/2020); đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR- VT; - VKSND TP. Bà Rịa; - THA Dân sự TP Bà Rịa; - UBND P. Phước Nguyên; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Mai |