- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn giữa anh Trương Văn C và chị Phạm Thị P"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trương Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có.
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Vinh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn.
Ông Bùi Trung Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Ngoạn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NL xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 106/2021/TLST - HNGĐ ngày 26/4/2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXX - ST ngày 28/5/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trương Văn C - Sinh năm 1991 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn 3, xã NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Phạm Thị P - Sinh năm 1991 (Vắng mặt lần thứ 2).
Nơi ĐKHKTT: Thôn 3, xã NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn 10, xã NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/4/2021, bản tự khai và tại phiên tòa anh Trương Văn C trình bày: Anh và chị Phạm Thị P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 13/8/2013 tại UBND xã NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng khác biệt với nhau về quan điểm sống. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không khắc phục được, nên từ đầu năm 2018 chị P đã về nhà bố, mẹ đẻ ở thôn 10, xã NL, huyện NL và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị P theo quy định pháp luật.
Về con cái: Anh và chị P có một con chung là Trương Đức B - Sinh ngày 25/12/2014. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, anh là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Trương Đức B, vợ chồng ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu B cho anh chăm sóc nuôi dưỡng và anh tự nguyện không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Thị P có mặt theo địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện và đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng chị Phạm Thị P không trình bày ý kiến về việc anh Trương Văn C yêu cầu ly hôn, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, cũng không tham gia phiên tòa. Tòa án xét thấy việc chị P vắng mặt thuộc trường hợp bị đơn từ chối khai báo, nên tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện việc tuân theo pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật, việc bị đơn vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và tại phiên tòa là bị đơn tự bỏ đi quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho anh Trương Văn C được ly hôn chị Phạm Thị P và giao cháu Trương Đức B cho anh Cương nuôi dưỡng, chăm sóc, chấp nhận sự tự nguyện của anh Cương về việc không yêu cầu chị Phạm Thị P cấp dưỡng nuôi con chung và buộc anh Trương Văn C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.
. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày của anh Cương và Trích lục kết hôn giữa anh Trương Văn C và chị Phạm Thị P, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Cương và chị Phượng là hợp pháp. Xét nguyện vọng ly hôn của anh Cương thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị P không trình bày ý kiến về việc anh Cương xin ly hôn, không tham gia phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa, điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trương Văn C.
. Về con chung: Căn cứ lời trình bày của anh Cương và giấy khai sinh của cháu Biên đủ cơ sở xác định anh C và chị P có 01 con chung Trương Đức B - Sinh ngày 25/12/2014. Xét đề nghị của anh C xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị P không trình bày ý kiến về việc giao nuôi con, nên không có căn cứ giao con cho chị P, nên chấp nhận đề nghị của anh Trương Văn C.
. Về tài sản: Anh Trương Văn C không đề nghị Toà án giải quyết và chị Phạm Thị P cũng không có ý kiến về phần tài sản, nên về phần tài sản Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về trình tự thủ tục giải quyết vắng mặt chị Phạm Thị P Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong đơn khởi kiện anh Trương Văn C ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện là chị Phạm Thị P và chị Phượng đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, việc chị Phạm Thị P vắng mặt không tham gia phiên họp, phiên hòa giải và không tham gia phiên tòa là thuộc trường hợp bị đơn từ chối khai báo, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về án phí: Anh Trương Văn C phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trương Văn C.
* Về hôn nhân: Anh Trương Văn C được ly hôn chị Phạm Thị P.
* Về con chung: Giao con chung Trương Đức B - Sinh ngày 25/12/2014 cho anh Trương Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Trương Văn C về việc không yêu cầu chị Phạm Thị P cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Phạm Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ngăn cấm.
* Về án phí: Anh Trương Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Cương đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2019/0012100 ngày 26/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL. Chấp nhận Anh Trương Văn C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Anh Trương Văn C đươc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Phạm Thị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện NL; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan THA huyện NgọcLặc; - Các đương sự; - UBND xã NL, huyện NL; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Vinh |