vanban.org

Bản án 30/2021/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 17/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc anh Dương Mạnh H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số nợ vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A941677/HĐTD-CC ngày 09 tháng 12 năm 2019, gồm số tiền gốc là 13.

Kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2021, anh Dương Mạnh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP K "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Dương Mạnh H"
  • Tòa quyết gì? Buộc anh Dương Mạnh H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số nợ vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A941677/HĐTD-CC ngày 09 tháng 12 năm 2019, gồm số tiền gốc là 13.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/DS-ST
Ngày: 17-6-2021
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự về
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Toàn Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Chiếm

Ông Nguyễn Nam Quốc Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K (viết tắt: Ngân hàng K); Địa chỉ trụ sở chính: Đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần T, chức vụ: Tổng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Lâm Quốc T, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng K-Chi nhánh Long An-Phòng giao dịch T, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 02/11/2020) (vắng mặt).

Địa chỉ phòng giao dịch: Khu Trung tâm hành chính tỉnh, Phường X, thành phố T, tỉnh Long An.

Bị đơn: Anh Dương Mạnh H, sinh năm 1985; cư trú tại: Đường N, Phường X, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 11 năm 2020 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K (viết tắt: Ngân hàng K) do ông Võ Lâm Quốc T đại diện trình bày:

Ngày 09 tháng 12 năm 2019, Ngân hàng K - Phòng giao dịch T và anh Dương Mạnh H có ký Hợp đồng tín dụng kiêm cầm cố số A941677/HĐTD-CC. Theo đó, anh H có vay của Ngân hàng số tiền 25.000.000 đồng, mục đích vay: buôn bán, thời hạn vay: 270 ngày, theo sản phẩm cho vay trả góp ngày, lãi suất vay: 16%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay ngay trước thời điểm chuyển nợ quá hạn, hình thức thanh toán: gốc lãi chia đều, trả hàng ngày.

Tài sản cầm cố bảo đảm nợ vay là xe mô tô, xe máy biển số 62B1-361.65, nhãn hiệu: HONDA; số loại: VISION; màu đen đỏ; số máy: JF66E0639221; số khung: 5816GY639203; xe do anh Dương Mạnh H đứng tên chủ sở hữu. Việc cầm cố có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm-Bộ Tư pháp.

Kể từ ngày giải ngân, anh H chỉ thanh toán được cho Ngân hàng K gốc và lãi tính đến ngày 14 tháng 4 năm 2020 (127 ngày/270 ngày) và cho đến nay liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 02 tháng 11 năm 2020, anh H còn nợ Ngân hàng K số tiền gốc là 13.240.741 đồng, lãi trong hạn là 1.567.123 đồng, lãi quá hạn là 1.758.661 đồng, tổng cộng là 16.566.525 đồng.

Nay Ngân hàng K khởi kiện yêu cầu anh Dương Mạnh H trả số nợ vay còn thiếu tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 18.534.135 đồng gồm nợ gốc là 13.240.741 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.567.123 đồng và lãi quá hạn là 3.726.271 đồng cùng lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng đến ngày thanh toán hết nợ. Về xử lý tài sản cầm cố theo hợp đồng số A941677/HĐTD-CC ngày 09 tháng 12 năm 2019, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn anh Dương Mạnh H nhưng anh H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K.

Vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần K có đơn khởi kiện tranh chấp đối với anh Dương Mạnh H về yêu cầu trả số nợ còn thiếu trong hợp đồng vay tài sản. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, anh Dương Mạnh H cung cấp địa chỉ cư trú tại nhà số 16/A10 Đường N, Phường X, thành phố T, tỉnh Long An. Căn cứ vào các điều: 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng K vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Dương Mạnh H đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K thấy rằng: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của nguyên đơn thể hiện ngày 09 tháng 12 năm 2019, anh Dương Mạnh H có ký Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A941677/HĐTD-CC vay của Ngân hàng K - Phòng giao dịch T số tiền 25.000.000 đồng; mục đích vay: buôn bán; thời hạn vay: 270 ngày theo sản phẩm cho vay trả góp ngày; lãi suất vay: 16%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; hình thức thanh toán: gốc lãi chia đều, trả hàng ngày.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh H chỉ thanh toán cho Ngân hàng K gốc và lãi đến ngày 14 tháng 4 năm 2020 (được 127 ngày/270 ngày). Sau đó, anh H không thanh toán tiếp nên đã vi phạm kỳ hạn trả nợ theo Điều 2 của hợp đồng tín dụng đã ký và đến nay đã để nợ quá hạn. Ngân hàng K đã nhiều lần yêu cầu anh H trả nợ nhưng anh H lẫn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Như vậy, từ những tình tiết và chứng cứ như đã nêu trên, có đủ cơ sở xác định ngày 09 tháng 12 năm 2019, anh H có vay và còn nợ Ngân hàng K số tiền gốc là 13.240.741 đồng, lãi tính đến ngày 17 tháng 6 năm 2021 gồm lãi trong hạn là 1.567.123 đồng, lãi quá hạn là 3.726.271 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 18.534.135 đồng.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K là có căn cứ theo quy định tại các Điều 274, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, anh H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng K số nợ vay còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng gồm gốc và lãi là 18.534.135 đồng.

Về xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng vay tài sản: Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay trong Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A941677/HĐTD-CC ngày 09 tháng 12 năm 2019, anh H đã dùng tài sản là xe mô tô biển số 62B1-361.65, nhãn hiệu: HONDA; số loại: VISION; màu đen đỏ; số máy: JF66E0639221; số khung: 5816GY639203; xe do anh Dương Mạnh H đứng tên chủ sở hữu để cầm cố cho Ngân hàng K - Chi nhánh Long An - Phòng giao dịch T nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Sau đó, Ngân hàng K giao xe mô tô nói trên cho anh H giữ theo Biên bản thỏa thuận gửi giữ tài sản ngày 09 tháng 12 năm 2019. Anh H giao bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy cho Ngân hàng K - Chi nhánh Long An - Phòng giao dịch T giữ. Xét thấy, biện pháp đảm bảo mà các bên đương sự thỏa thuận chưa đảm bảo đúng hình thức, thủ tục theo quy định tại các Điều 309, 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 về cầm cố tài sản và thế chấp tài sản nên vô hiệu, buộc Ngân hàng K có nghĩa vụ trả lại cho anh H bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 62B1-361.65.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K được chấp nhận nên anh Dương Mạnh H phải chịu 926.707 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều: 274, 309, 315, 316, 317, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Buộc anh Dương Mạnh H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số nợ vay theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A941677/HĐTD-CC ngày 09 tháng 12 năm 2019, gồm số tiền gốc là 13.240.741 đồng và nợ lãi tính đến ngày 17 tháng 6 năm 2021 là 5.293.394 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 18.534.135 (mười tám triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn, một trăm ba mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày 18 tháng 6 năm 2021, anh Dương Mạnh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần K trả cho anh Dương Mạnh H bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 017097 do Công an tỉnh Long An cấp cho anh Dương Mạnh H vào ngày 18 tháng 01 năm 2017.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Dương Mạnh H phải chịu 926.707 đồng (chín trăm hai mươi sáu nghìn bảy trăm lẻ bảy) đồng.

- Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền 415.000 (Bốn trăm mười lăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005052 ngày 24 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An.

Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ