- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ cố ý gây thương tích, bị cáo Lê Tuấn E - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hìn…"
- Tòa quyết gì? Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HSST Ngày: 18/5/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thanh Trí
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang - là thư ký Toà án nhân dân quận C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nhủ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2020 Toà án nhân dân quận C mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST-HS ngày 20/4/2020 đối với bị cáo:
Lê Tuấn E, sinh năm 1993. ĐKTT: 7/5 Tổ 5, Khu vực 3, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệ p: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Lê Thanh H (sống) mẹ: Huỳnh Thị P (sống); vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận C, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Đỗ Nhật T; sinh năm: 1993. Địa chỉ: 28/5 Khu vực 3, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Minh H; sinh năm: 1967. Địa chỉ: 22B/5 Khu vực 3, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Ngƣời làm chứng: Anh Lê Vƣơng C; sinh năm: 1989. Địa chỉ: 31A/5, Khu vực 3, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 01/10/2016, Đỗ Nhật T, Lê Tuấn E, Lê Vương C và Đặng Minh H chơi đánh bi da tại nhà của anh Đặng Minh H thuộc Khu vực 3, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Chơi được một lúc thì H và C nghỉ, lúc này T rủ Tuấn E tiếp tục chơi bida nhưng Tuấn E không đồng ý, cả hai xảy ra mâu thuẫn cự cãi, T cầm cây cơ bi da đánh vào người Tuấn E nhưng không trúng; Tuấn E cầm cây cơ đánh lại trúng vào đầu của T gây thương tích và được người nhà đưa đến Bệnh viện Quân Y 121 cấp cứu đến ngày 07/10/2016 thì xuất viện.
Vật chứng thu giữ: 02 cây cơ bi da đã bị gãy.
Ngày 24/10/2016, Đỗ Nhật T đã làm đơn yêu cầu khởi tố đối với Lê Tuấn E về hành vi cố ý gây thương tích.
Đối với Lê Tuấn E, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn, cơ quan C sát điều tra – Công an quận C, thành phố cần Thơ ra quyết định truy nã. Ngày 26/12/2019, Tuấn E bị bắt theo quyết định truy nã.
Quá trình điều tra, Lê Tuấn E đã nhận tội.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 203/TgT ngày 10/11/2017 của Trung tâm Giám định pháp y thuộc Sở Y tế thành phố Cần Thơ, kết luận: Đỗ Nhật T bị vết thương vùng xương sọ trán trái gây vỡ sọ trán trái, xoang trán tụ khí trong não vùng trán, được điều trị nội khoa. Hiện tại vết thương đã lành, còn đau đầu, không yếu liệt chi, không ảnh hưởng thẩm mỹ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12%.
Về trách nhiệm dân sự: Đỗ Nhật T yêu cầu bồi thường tổng cộng 12.000.000đ, gia đình Lê Tuấn E đã bồi thường xong.
Tại Cáo trạng số: 24/CT-VKS-CR ngày 17/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận C đã truy tố Lê Tuấn E về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu kết luận vụ án:
- Vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã viện dẫn.
- Xét thấy, sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, dẫn đến việc Công an điều tra phải ra quyết định truy nã bị cáo, gây khó khăn cho việc điều tra nên cần phải có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại cũng có một phần lỗi; hơn nữa, bị hại đã có đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại.
+ 02 cây cơ bi da của anh H đã bị gãy nhưng anh H không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: 02 cây cơ bị da đã bị gãy: đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, xét thấy có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 19 giờ ngày 01/10/2016, trong lúc Đỗ Nhật T và Lê Tuấn E đánh bi da tại nhà của anh Đặng Minh H (Đức) tại Khu vực 3, phường HT, quận C; giữa T và Tuấn E xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau, T cầm cây cơ bi da đánh thẳng về phía Tuấn E nhưng không trúng Tuấn E mà trúng vào cây cột làm gãy cây bi da. Tuấn E liền cầm cây cơ bi da đánh lại trúng vào mang tai bên trái của T làm T té xuống đất và gãy cây cơ. Cả hai tiếp tục vật lộn; sau đó, được mọi người can ngăn, Tuấn E bỏ về và T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân Y 121 đến ngày 07/10/2016 thì xuất viện. Hành vi của Tuấn E dùng cây cơ bi da là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu T gây thương tích cho T tỷ lệ tổn thương 12%; vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là chính xác.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 3, Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì những điều khoản có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước ngày 01/01/2018.
Theo đó, tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định đối với T hợp phạm tội gây thương tích cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các T hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.
Đối chiếu với vụ án này, bị cáo thuộc T hợp dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% thì hình phạt tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định giảm hình phạt, có lợi hơn cho bị cáo nên được áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện trước ngày 01/01/2018.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được sức khỏe của người khác là vốn quý, được pháp luật Hình sự bảo vệ, bất kỳ ai thực hiện hành vi xâm phạm hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, tính mạng người khác một cách trái pháp luật thì đều bị xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác; đồng thời, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương.
Xét thấy, trong cách giải quyết các mối quan hệ xã hội hằng ngày, bị cáo có nhiều cách để lựa chọn xử sự của mình cho đúng đắn và phù hợp. Trong T hợp này, tuy lỗi ban đầu của bị hại T đã dùng cây cơ bi da đánh bị cáo trước nhưng bị hại T đánh không trúng bị cáo, không gây tổn hại sức khỏe cho bị cáo, hành vi của T đã chấm dứt; tuy nhiên, bị cáo đã không kiềm chế bản thân, cố ý thực hiện hành vi gây tổn hại sức khỏe của Đỗ Nhật T với mức độ nghiêm trọng nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù để giáo dục, cải tạo cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng sức khỏe, tính mạng của người khác và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:
Như trên đã lập luận, trong vụ án này, bị hại Đỗ Nhật T đã dùng cây cơ bi da đánh bị cáo trước, tuy bị hại đánh không trúng người bị cáo nhưng trúng cây cột làm gãy cây bi da, cho thấy bị hại đã đánh rất mạnh về phía bị cáo nên bị hại cũng có một phần lỗi. Bên cạnh đó, xét thấy, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên không giải quyết.
+ 02 cây cơ bi da của anh H đã bị gãy nhưng anh H không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: 02 cây cơ bi da bị gãy là công cụ phạm tội, cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Lê Tuấn E phạm tội: ”Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Lê Tuấn E 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 26/12/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Minh H không có yêu cầu bồi thường nên không giải quyết.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 02 cây cơ bi da bị gãy.
4. Về án phí: căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và danh mục án phí;
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; kể từ ngày nhận được bản sao bản án đối với bị hại và các đương sự; bị cáo, bị hại và các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. Cần Thơ. - VKSND Q. C. - Trại giam, Công an Q. C. - Cơ quan Thi hành án. - Bị cáo. - Các đương sự. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Trang |