- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trung K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HS-ST Ngày: 29/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG -TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Khỏe và ông Đinh Ngọc Phú.
- Thư ký phiên toà: BàVũ Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2020/HSST ngày 20/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/HSST-QĐ ngày 17/4/2020 đối với bị cáo:
Phạm Trung K, sinh năm: 1970; ĐKHKTT và chỗ ở : xóm N, thôn SĐ, xã TA, huyện TH, tỉnh HD; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/10; Con ông Phạm Trung K1 và bà Phạm Thị N1 (đều đã chết); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn; có vợ là Phạm Thị H1 (đã ly hôn) và 01 con. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Nhân thân:
- Tại Quyết định số 2068/QĐ-UBND ngày 06/6/2012, Ủy ban nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương về việc đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện, chữa trị tại cơ sở chữa bệnh, thời gian 24 tháng.
- Tại Quyết định số 2887/QĐ-UBND ngày 05/6/2014, Ủy ban nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy, thời gian 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 25/5/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2020, chuyển tạm giam từ ngày 07/01/2020 đến nay tại Trại giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Chị Mai Bích T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khu 16, phường NC, thành phố HD, tỉnh HD.
2. Anh Lê Đăng Đ, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Thôn PL, phường NĐ, thành phố HD, HD.
Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Trung K là người nghiện ma túy (loại Heroin). Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/01/2020, K đi xe bus từ nhà lên khu vực xóm Phú Bình, phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương, mục đích tìm mua chất ma túy Heroin để sử dụng cho bản thân. Tại đây, K mua được của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 02 gói ma túy Heroin với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, K cầm trên tay trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày khi K đi bộ đến khu vực chân cầu Phú Lương (cũ), phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dương đang làm nhiệm vụ phát hiện, kiểm tra. Thấy vậy, K đã thả 02 gói ma tuý vừa mua được xuống dưới đất ngay vị trí K đứng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ của K 02 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, có kích thước mỗi gói (0,5x1) cm, bên trong đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ trong túi áo khoác bên trái K đang mặc 01 bơm kim tiêm loại 3ml và 01 ống nước cất bằng thuỷ tinh trước sự chứng kiến của chị Mai Bích T ở khu 16, phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương và anh Lê Đăng Đ ở thôn Phú Lương, phường Nam Đồng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Tại Kết luận giám định số 78/KLGĐ- PC09 ngày07/01/2020, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Phạm Trung K gửi đến giám định khối lượng 0,155 gam là ma túy, loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Về vậtchứng: Sau khi giám định hoàn lại 0,095 gam Heroine được niêm phong trong phong bì số 78/KLGĐ-PC09; 01 bơm kim tiêm loại 3ml và 01 ống nước cất bằng thuỷ tinh hiện đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.
Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSTPHD ngày 20/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung K, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trung K từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ (04/01/2020).
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,095 gam Heroine được niêm phong trong phong bì số 78/KLGĐ-PC09; 01 bơm kim tiêm loại 3ml và 01 ống nước cất bằng thuỷ tinh.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai của bị cáo Phạm Trung K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/01/2020 tại khu chân cầu Phú Lương (cũ), phường Nhị Châu, thành phố Hải Dương, Phạm Trung K đang cất giấu trái phép 0,155 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm sản xuất, quản lý và sử dụng nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện, ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Việc bị cáo cất giấu trái phép 0,155gam Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.
.Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Năm 2012, bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện, chữa trị tại cơ sở chữa bệnh; Năm 2014 bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy. Tuy không xác định là tiền sự đối với bị cáo nhưng chứng tỏ bị cáo có nhân thân không tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với 0,095 gam Heroine được niêm phong trong phong bì số 78/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; 01 bơm kim tiêm loại 3ml và 01 ống nước cất bằng thuỷ tinh là chất cấm lưu hành và là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo do không biết họ tên, địa chỉ cụ thể không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý là phù hợp pháp luật.
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Trung K 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 04/01/2020).
[3]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,095 gam Heroine được niêm phong trong phong bì số 78/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương; 01 bơm kim tiêm loại 3ml và 01 ống nước cất bằng thuỷ tinh(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 24/3/2020).
[4]. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Trung K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/4/2020)./.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND thành phố Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an TP Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Mai Hoa |