- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cụt Văn Định - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HS-ST Ngày: 12-5-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vi Thị Khiểu
Ông Moong Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2020/TLST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cụt Văn Đ. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1998 tại xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Lưu Thắng, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cụt Văn Thân và bà Xeo Thị Thu; Vợ: Nhang Thị Thiêm và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2019 đến nay. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Vi Khăm Hương, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Bản Cù, xã CL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 31/12/2019, Cụt Văn Đ đi xe lai của một người không quen biết từ nhà đến bản Cò Sọ, xã Lương Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Định gặp một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết, Định đưa cho người này số tiền 250.000 đồng nhờ đi mua hộ ma túy cho mình. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông này quay laị đưa cho Định hai gói ma túy (heroine) gói trong giấy trắng dòng kẻ và một cục Heroine gói trong bao potylen màu hồng. Định lấy một gói heroine ra sử dụng hết, số ma túy còn lại Định cất dấu trong túi quần dài của mình rồi tiếp tục đi nhờ xe lai về nhà. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang đi chơi khu vực bản Lưu Thắng, xã CL, huyện KS thì bị Công an huyện KS phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật là số heroine bên túi quần của Định.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào ngày 01/01/2020 đã xác định: Chất màu trắng được gói trong bao potylen màu xanh thu giữ của Cụt Văn Đ có khối lượng sau khi loại bỏ bao bì là 0,1 gam (Không phẩy một). Hội đồng đã trích 0,05 gam (Không phẩy không năm) để gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 122/KL-PC09(MT) ngày 07/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Cụt Văn Đ gửi tới giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 0,1 gam.
Cáo trạng số 33/CT-VKS-KS ngày 10/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An truy tố Cụt Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cụt Văn Đ mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của Cụt Văn Đ, bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Cụt Văn Đ đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện KS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt của người chứng kiến, tuy nhiên xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Cụt Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, tại khu vực bản Lưu Thắng, xã Hữu Kiệm, huyện KS, tỉnh Nghệ An, Cụt Văn Đ là người có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) với khối lượng là 0,1 gam thì bị Công an huyện KS phát hiện và bắt quả tang. Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hướng đến sức khỏe, bình yên cuộc sống và làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm. Bị cáo tuổi đời còn trẻ không chịu khó lao động chỉ vì muốn có ma túy để thỏa mãn cơn nghiện mà bất chấp quy định của pháp luật. Do đó, cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của Cụt Văn Đ, bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với người đàn ông không quan biết và người đàn ông người dân tộc Thái đi mua ma túy hộ cho Cụt Văn Đ, quá trình điều tra, xác minh không xác định được danh tính, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cụt Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 31/12/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của Cụt Văn Đ, bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu.
(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Cụt Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Cụt Văn Đ có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - Công an huyện KS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vƣơng Hoàng Hào |