- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 56/GĐKTHS ngày 09/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10/3/2020 tại Chi cục …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HS - ST Ngày: 27 - 4 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Xuân Thu
Ông Phạm Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Đặng Văn G; sinh năm 1975, tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Xóm Lâm T, xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn Tr (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Th; có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 08/01/2020, tạm giam từ ngày 11/01/2020; “có mặt”.
Người chứng kiến:
Anh Đỗ Văn X, sinh năm 1979
Anh Trần Đình L, sinh năm 1981
Đều trú tại: Tổ dân phố L, thị trấn Q, huyện Gi, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 25 phút ngày 08/01/2020 tổ công tác của Công an thị trấn Quất Lâm làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực tổ dân phố Lâm Thọ, thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy phát hiện Đặng Văn G có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Gi, quá trình kiểm tra Gi đã tự giác giao nộp 01 gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục mầu trắng, Gi khai đó là heroin của Gi mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ ở chợ Bến xã Giao Phong, huyện Giao Thủy với giá 400.000đ với mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Giáo về trụ sở UBND thị trấn Quất Lâm lập biên bản bắt người phạm pháp quả tang, thu 01 gói chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu “T” và bàn giao đối tượng, vật chứng cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc lên Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 56/GĐKTHS ngày 09/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy bạc được niêm phong ký hiệu T gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroin. Khối lượng mẫu T: 0,213 gam”.
Tại Bản cáo trạng số: 23/CT - VKS ngày 09/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Đặng Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy giữ quyền công tố tại phiên tòa đã giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đặng Văn G từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận gì. Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng19 giờ 25 phút ngày 08/01/2020 tại khu vực tổ dân phố Lâm Thọ, thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, Công an thị trân Quất Lâm đã bắt quả tang Đặng Văn G đã có hành vi cất giấu trái phép 01 gói heroine có khối lượng là 0,213 gam nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo là hành vi nguy hiểm đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là hiểm họa cho xã hội, không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng tới gia đình, cộng đồng, là nguồn gốc phát sinh các loại bệnh tật, làm gia tăng các hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số heroine hoàn trả sau giám định cần tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc số heroine thu giữ của Đặng Văn G có để cất giấu sử dụng, Giáo khai: Tối ngày 08/01/2020 mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ của người này ở khu vực gốc Đa, chợ Bến, xã Giao Phong với giá 400.000đ được 01 gói để sử dụng cho bản thân. Nhận thấy, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xác định được người bán ma túy cho Giáo để xử lý theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Đặng Văn G 01 năm 09 tháng (Một năm, chín tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2020.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 56/GĐKTHS ngày 09/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Văn G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Đặng Văn G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh; - VKSND huyện + Tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Xuân Thu Phạm Xuân Trường | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |