vanban.org

Bản án 30/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 10/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM SƠN T mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2020/HS-ST
Ngày: 10/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phan Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Nhàn.

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Sương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2020/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

PHẠM SƠN T, sinh năm 1993, tại tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: Ấp Thạnh Hưng, xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/7/2020, chuyển tạm giam ngày 26/7/2020.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị L, sinh năm 1976;

Nơi cư trú: Ấp Bình Long, xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 22/7/2020, bị cáo Phạm Sơn T điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B9 - 413.10 đến khu vực Ga - quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mua 03 (ba) gói ma túy loại Methamphetamine có tổng trọng lượng là 0,9699gam của người đàn ông có tên thường gọi là “Anh Ba” (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá tiền là 700.000 đồng, rồi cất giấu vào trong người với mục đích sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 23/7/2020, bị cáo mang theo 03 gói ma túy nêu trên giấu vào trong hai túi quần, điều khiển xe mô tô đến quán café giải khát Nhiệt Đới thuộc Khu phố 6, thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây gặp anh Nguyễn Minh T, sinh năm 2001, ngụ ấp Thạnh Bình, xã Thạnh Trị, huyện Gò Công Tây để lấy tiền do anh Thi thiếu. Khi vừa đến trước cổng quán thì Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Tiền Giang tiến hành bắt quả tang cùng tang vật.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSGCT ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Phạm Sơn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Từ cơ sở phân tích hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Sơn Tùng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Sơn Tùng từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 163/1 ghi ngày 25/7/2020, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Tấn L (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Hoàng V (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KÝ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,5951 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon mày trắng đã bị cắt một đầu; 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 163/2 ghi ngày 25/7/2020, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Tấn L (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Hoàng V (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KÝ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,3220 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon mày trắng đã bị cắt một đầu; 01 (một) cái bóp màu nâu; 01 (một) mảnh keo dán hai mặt có kích thước (04x2,5) cm; 01 cái quần có đặc điểm: Vải màu xám, dài 97 cm, lưng rộng 90 cm, bên trong lưng quần có chữ New Fashion; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 044885, biển số đăng ký 63B9 - 413.10.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO và số tiền

800.00 Việt Nam đồng.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B9 - 413.10.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như về hình phạt, tuy nhiên bị cáo biết mình vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình, với xã hội để làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp. Bị cáo không có khiếu nại hay ý kiến gì.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 23/7/2020, bị cáo cất giấu 03 gói ma túy có trọng lượng 0,9699gam vào trong hai túi quần nhằm mục đích sử dụng, điều khiển xe mô tô đến quán café giải khát Nhiệt Đới thuộc Khu phố 6, thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây vừa đến trước cổng quán thì Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Tiền Giang tiến hành bắt quả tang cùng tang vật.

Lời khai nhận của bị cáo T phù hợp với diễn biến nội dung vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 30/CT-VKSGCT ngày 13/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tuy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là loại hàng hóa đặc biệt nguy hiểm, bị cáo đã thành niên, phát triển tốt về thể chất và tư duy, bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, nhận thức được ma túy là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, do ý thức chấp hành pháp luật kém, bị cáo đã sa ngã vào con đường phạm tội. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, đồng thời phải được xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy và cũng tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho mọi người.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân:

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận nên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng.

+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

+ Tiền án, tiền sự: Không.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 163/1 ghi ngày 25/7/2020, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Tấn L (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Hoàng V (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KÝ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,5951 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon mày trắng đã bị cắt một đầu.

+ 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 163/2 ghi ngày 25/7/2020, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Tấn L (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Hoàng V (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KÝ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,3220 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon mày trắng đã bị cắt một đầu.

+ 01 (một) cái bóp màu nâu.

+ 01 (một) mảnh keo dán hai mặt có kích thước (04x2,5) cm.

+ 01 cái quần có đặc điểm: Vải màu xám, dài 97 cm, lưng rộng 90 cm, bên trong lưng quần có chữ New Fashion.

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 044885, biển số đăng ký 63B9 - 41310.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO và số tiền

800.000 Việt Nam đồng, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B9 - 413.10. Đây là xe của bị cáo T, bị cáo tự mua đồ lắp ráp lại, không phải phương tiện hợp pháp và sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy.

Xét phát biểu luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Phạm Sơn T là có cơ sở một phần nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Phạm Sơn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ

luật hình sự.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Sơn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 23/7/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Sơn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 163/1 ghi ngày 25/7/2020, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Tấn L (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Hoàng V (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KÝ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,5951 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon mày trắng đã bị cắt một đầu.

+ 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 163/2 ghi ngày 25/7/2020, có chữ ký in họ tên Nguyễn Thanh T (Giám định viên), Huỳnh Tấn L (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Lê Hoàng V (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KÝ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG; bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín chứa 0,3220 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 (một) vỏ bao gói nylon mày trắng đã bị cắt một đầu.

+ 01 (một) cái bóp màu nâu.

+ 01 (một) mảnh keo dán hai mặt có kích thước (04x2,5) cm.

+ 01 cái quần có đặc điểm: Vải màu xám, dài 97 cm, lưng rộng 90 cm, bên trong lưng quần có chữ New Fashion.

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 044885, biển số đăng ký 63B9 - 41310.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, kiểu máy A1601, số IMEL1: 861216039551031, số IMEL2: 861216039551023, sim số 0986173694, 0927441807 và số tiền Việt Nam 800.000 đồng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B9 - 413.10, số máy LC150FM00960364, số khung xM100-00960364.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/10/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Tây và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây)

3/ Về án phí:

- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Sơn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tròn tính từ ngày tuyên án. Đối với chị Nguyễn Thị L thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ