vanban.org

Bản án 30/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Ngọc Á và ông Nguyễn Bá C.

Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Chư U, sinh ngày 07/02/2005 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 01/01/2012 cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng; ông Chiến cấp dưỡng cho 02 con chung, mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng; thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ánh xin ly hôn với anh Chiến"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Ngọc Á và ông Nguyễn Bá C.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2020
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọ

2. Bà Vũ Thị Nữ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2020/QĐST – HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2020

Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc Á, sinh năm 1982, vắng mặt

(Bà Á có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

1. Bị đơn: Ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1972, vắng mặt

(Ông C vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Á có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 4 năm 2020 và trong quá trình xét xử nguyên đơn Lê Ngọc Á trình bày:

Về hôn nhân: Bà đăng ký kết hôn với ông Nguyễn Bá Chiến tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận vào ngày 01/6/2001 (Giấy đăng ký số 73). Sau khi đăng ký kết hôn ông bà sống hạnh phúc một thời gian rồi phát sinh mâu thuẫn, do có nhiều quan điểm sống trái ngược nhau, ông C đánh bài, xúc phạm đánh đập bà Á, ngoại tình. Từ tháng 10 năm 2019 bà và ông đã sống ly thân. Nay bà Á xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông C không còn nên bà xin ly hôn với ông C.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Bá Q, sinh ngày 07/12/2001, Nguyễn Chư U, sinh ngày 07/02/2005 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 01/01/2012; cháu Q đã trưởng thành và có khả năng lao động. Bà có nguyện vọng là trực tiếp nuôi 02 con chung chưa thành niên và yêu cầu ông C cấp dưỡng cho 02 con chung, mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng; thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động

Về chia tài sản: Bà Á không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay ông C vắng mặt nhưng trong quá trình xét xử, bị đơn Nguyễn Bá C có ý kiến:

Về hôn nhân: Ông thừa nhận về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như trình bày của bà Á là đúng. Sau khi đăng ký kết hôn ông bà sống hạnh phúc một thời gian rồi phát sinh mâu thuẫn, nhưng chưa đến mức ly hôn; ngoài ra ông theo Thiên chúa giáo nên bà Á yêu cầu ly hôn ông không đồng ý ly hôn.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung như lời trình bày của bà Á. cháu Quân đã trưởng thành và có khả năng lao động. Ông giao 02 con chung chưa thành niên cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng và ông cấp dưỡng cho 02 con chung, mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng; thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động

Về chia tài sản: Ông C không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, giao con chung chưa thành niên cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng; ông C phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung chưa thành niên, mỗi con là 1.000.000/đồng/tháng. Về tài sản, đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết, bà Á và ông C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân nhận định:

. Về hôn nhân: Hôn nhân của bà Lê Ngọc Á và ông Nguyễn Bá C là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn rất nghiêm trọng. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên hai bên đã ly thân nhiều lần mỗi khi phát sinh mâu thuẫn. Nay bà Á xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông C. Ông C cho rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không đáng kể là không đúng, ngoài ra việc ông theo Thiên chúa giáo nên không thể ly hôn là không có cơ sở xem xét. Xét thấy hôn nhân gia đình có hạnh phúc hay không phải được xây dựng từ cả hai phía bà Á và ông C, nhưng bà Ánh cương quyết yêu cầu ly hôn với ông Chiến. Do đó, có căn cứ chấp nhận cho bà Á và ông C ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về nuôi con chung: Cháu Q đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên không xét. Giao con chung Nguyễn Chư U và Nguyễn Ngọc Y cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng; ông C cấp dưỡng cho 02 con chung, mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về chia tài sản: Bà Ánh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

.Về án phí: Bà Á và ông C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Ngọc Á và ông Nguyễn Bá C.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Chư U, sinh ngày 07/02/2005 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 01/01/2012 cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng; ông Chiến cấp dưỡng cho 02 con chung, mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng; thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông C có quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

3. Về chia tài sản: Không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lê Ngọc Á phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà đã nộp theo Biên lai số 0002573 ngày 29/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân. Ông Nguyễn Bá C phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ