- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "D - Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/DSST Ngày: 09/12/2020 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Trí và bà Trần Thị Thu Ba
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 09/12/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2020/TLST-DS ngày 01/7/2020, về việc Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-DS ngày 30/10/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐST-DS ngày 18/11/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy D – Sinh năm: 1978;
Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ – Sinh năm: 1984;
Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt không lý do.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên Tòa nguyên đơn trình bày: Ngày 14/4/2020, bà D có cho ông Đ vay số tiền 300.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng. Khi vay ông Đ thỏa thuận đến ngày 24/4/2020 sẽ hoàn trả hết số tiền đã vay mượn của bà D. Khi đến hạn, ông Đ chỉ trả cho bà D 100.000.000 đồng, còn lại 200.000.000 đồng, bà D đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông Đ cố tình hẹn hết lần này đến lần khác không trả. Do đó, nay bà D yêu cầu Tòa buộc ông Đ phải trả số tiền gốc còn nợ 200.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày vay 14/4/2020 đến khi xét xử, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Đ đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự là đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội D, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, xác định ông Đ có vay mượn và còn nợ của bà D số tiền 200.000.000 đồng, khi vay hai bên có thỏa thuận lãi. Do đó, việc bà D yêu cầu là có căn cứ, đề nghị HĐXX buộc ông Đ phải trả cho bà D số tiền gốc và lãi theo quy định pháp luật. Về án phí buộc bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ pháp luật: Giữa bà D với ông Đ có thỏa thuận, ký kết hợp đồng vay mượn vào ngày 14/4/2020, với hạn cuối phải trả là ngày 24/4/2020. Khi đến hạn, bà D nhiều lần yêu cầu ông Đ trả số tiền đã vay, còn nợ nhưng ông Đ không trả hết số tiền đã vay mà cố tình trốn tránh nên bà D khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.
[3] Căn cứ vào giấy vay mượn tiền đã ký kết giữa ông Đ với bà D thì ngày 14/4/2020, ông Đ có vay của bà D số tiền 300.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng, với thỏa thuận hạn cuối phải trả hết là ngày 24/4/2020. Khi đến hạn, bà D nhiều lần yêu cầu nhưng ông Đ chỉ trả 100.000.000 đồng, còn lại 200.000.000 đồng, ông Đ cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Quá trình giải quyết, mặc dù Tòa đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đ cố tình bỏ mặc không phối hợp để Tòa tiến hành hòa giải, giải quyết theo quy định. Do đó, việc bà D yêu cầu Tòa buộc ông Đ phải trả số tiền gốc đã vay, còn nợ 200.000.000 đồng và lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày vay đến khi xét xử là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về lãi suất: Ngày 14/4/2020 đến 09/12/2020 là 07 tháng 25 ngày (tương ứng với 7,83 tháng), theo quy định pháp luật thì lãi suất là 10%/năm (0,83%/tháng). Do đó, lãi suất ông Đ phải trả cho bà D theo quy định là: 7,83 × 0,83% × 200.000.000 đồng = 12.997.000 đồng (Đã làm tròn).
[5] Như vậy, buộc ông Đ phải trả cho bà D 200.000.000 đồng tiền gốc và 12.997.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 212.997.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm (DSST): Bị đơn phải chịu án phí tương ứng với 5% số tiền phải trả cho nguyên đơn là 212.997.000 đồng, nên ông Đ phải chịu 10.649.000 đồng (Đã làm tròn).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy D.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị Thùy D 212.997.000 đồng (Hai trăm mười hai triệu chín trăm chín mươi bảy nghìn đồng) gồm 200.000.000 đồng tiền gốc và 12.997.000 đồng tiền lãi.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí DSST: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 10.649.000 đồng (Mười triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn đồng). Hoàn trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy D 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại phiếu thu số 0003553 ngày 01/7/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Phú Yên; - VKSND thị xã Đông Hòa; - Chi cục THADS thị xã Đông Hoà; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Tấn Hồng |