- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Hoa-Xuân"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn H .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/DS-PT Ngày: 03-3-2020 V/v Tranh chấp Quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;
Bà Trương Thị Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh TN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TN tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh TN xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/2019/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất” .
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2019/ DS-ST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện HT bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXPT- DS ngày 10 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1968.
Nơi cư trú: Số 354, Tôn ĐT, ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN; vắng mặt.
Bà Đào Thị T, sinh năm 1962.
Nơi cư trú: Số 354, Tôn ĐT, ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Văn H, bà Đào Thị T: Anh Vương Sơn H, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Số 72, khu phố NT, phường NS, thành phố TN, tỉnh TN.
2. Bị đơn: Bà Đặng Thị NS, sinh năm 1965.
Nơi cư trú: Số 356A, Tôn ĐT, ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà Đặng Thị NS: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: Ấp 3, xã PV, huyện CT, tỉnh TN.
3. Người kháng cáo: Ông Trần Văn H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/8/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là ông Trần Văn H, bà Đào Thị T, người đại diện hợp pháp của ông H, bà T là anh Vương Sơn H thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông H, bà T có 01 phần đất diện tích 482,2m2 tọa lạc ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN. Ông H, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H03550/08 ngày 20/11/2008. Tại biên bản hòa giải ngày 18/10/2008 giữa ông H, bà T với bà NS ký kết nội dung thể hiện “ranh đất của ông H lấy thẳng từ lộ 4m lên đường Tôn ĐT, phần phía trước ranh đất giữa hộ ông H và bà NS, lấy lại vách tường nhà bà NS làm lấn chiếm (vị trí tại ô quăng phía nhà ông H) có sơ đồ kèm theo. Phần từ ô quăng nhà ông H ra lộ Tôn ĐT, nhà bà NS có xây lấn qua ranh nhà ông H, ông H cùng gia đình bà NS thỏa thuận, sau này nếu bà NS và gia đình ông H có sửa chữa, chuyển nhượng hoặc xây cất mới pH lấy ranh lại cho thẳng ranh đất ông H” phần đất lấn chiếm sau khi đo đạc có diện tích là 2,0m2. Nay ông H, bà T có nhu cầu sửa chữa nhà nên chỉ yêu cầu bà NS trả lại vách tường nhà và phần đất lấn chiếm diện tích 2,0m2 tọa lạc ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Đặng Thị NS là anh Nguyễn Văn T trình bày:
Nguồn gốc phần đất bà NS đang sử dụng là do bà Lê Thị Cánh (mẹ bà NS) cho, bà NS được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H01556/08 ngày 08/9/2006 diện tích là 240m2 tọa lạc ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN. Biên bản hòa giải ngày 18/10/2008 bà NS có ký tên mục đích để ông H vay tiền ngân hàng. Ngoài ra theo kết quả đo đạc thì diện tích đất của bà NS bị thiếu, diện tích đất ông H, bà T tăng nên bà NS không đồng ý yêu cầu của ông H, bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2019/ DS-ST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện HT tuyên xử:
Áp dụng Điều 166, Điều 168, Điều 175, Điều 176 Bộ Luật Dân sự; Điều 166, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H, bà Đào Thị T đối với bà Đặng Thị NS về việc tranh chấp phần đất diện tích 2,0m2 tọa lạc ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng; quyền và nghĩa vụ Thi hành án, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 12-10-2019 ông Trần Văn H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Buộc bà Đặng Thị NS trả cho ông 2,0m2 (0,44m x 8,66m).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TN tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thẩm phán và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng những quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn H.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 42/2019/DS-ST ngày 09/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của đương sự , Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Trần Văn H, bà Đào Thị T vắng mặt. Người đại diện ủy quyền của ông H, bà T anh Vương Sơn H có mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vụ án.
Xét kháng cáo của ông Trần Văn H thấy rằng:
Ngày 07-7-1990 ông H, bà T có nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Huệ, bà Huệ nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Cánh, diện tích ngang 10,5m x 50m (mua bán bằng giấy tay), đất tọa lạc tại ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN. Đến năm 1993 ông H kê khai đăng ký, được ủy ban nhân dân huyện HT cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 412m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 02237 QSDĐ/D12 ngày 11-9-1993.
Ngày 20-11-2008 ông H, bà T được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H03550/08 ngày 20-11- 2008 với diện tích là 482,2m2.
Nguồn gốc phần đất của bà NS là do bà Lê Thị Cánh (mẹ bà NS) cho bà NS được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H01556/08 ngày 08-9-2006 diện tích là 240m2.
Ông H, bà T cho rằng bà NS lấn đất của ông, bà có diện tích là 2,0m2. Theo kết quả đo đạc thực tế ngày 09-4-2019 diện tích đất ông H, bà T có diện tích 493,4m2 tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông H, bà T được cấp là 13,0m2. Đất bà NS được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H01556/08 ngày 08-9-2006 diện tích là 240 m2 đo đạc diện tích bà NS còn 231,7m2 giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà NS được cấp là 8,3 m2. Diện tích nằm ngoài ranh bản đồ địa chính của ông H, bà T sử dụng giáp ranh bà NS là 13,0m2.
Biên bản hòa giải ngày 18-10-2008 giữa ông H, bà T với bà NS ký có nội dung thể hiện “ranh đất của ông H lấy thẳng từ lộ 4m lên đường Tôn ĐT, phần phía trước ranh đất giữa hộ ông H và bà NS, lấy lại vách tường nhà bà NS lấn chiếm (vị trí tại ô quăng phía nhà ông H)”. Tuy nhiên sơ đồ kèm theo phía dưới chữ ký tên của bà NS, ông H, bà T nhưng không thể hiện số liệu cụ thể. Hơn nữa đến ngày 14-11-2008 thì ông H mới có đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nội dung đơn xin diện tích 482,2m2 (bút lục 84). Trong hồ sơ xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H; có đơn xin xác nhận của ông H phần diện tích cấp đổi có diện tích 482,2m2 có tứ cận số liệu cụ thể mỗi cạnh của thửa đất ông H xin cấp. Ngày 20-11-2008 Ủy ban nhân dân huyện HT mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H 482,2m2 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sơ đồ bản vẽ của thửa đất 287 ông H được cấp nhưng ông H cũng không có ý kiến gì (bút lục 107).
Ông H kháng cáo yêu cầu bà NS trả phần đất lấn sang đất ông H, bà T diện tích 2,0m2 nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông H.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TN, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 42/2019/DS- ST ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN.
Án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn H kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên ông H pH chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm theo Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn H .
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 42/2019/DS- ST ngày 09-10-2019 của Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN.
Căn cứ Điều 166, Điều 168, Điều 175, Điều 176 Bộ Luật Dân sự; Điều 166, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H, bà Đào Thị T đối với bà Đặng Thị NS về “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất diện tích 2,0m2 tọa lạc ấp LC, xã Long LT, huyện HT, tỉnh TN.
2. Về chi phí đo đạc, định giá: Trần Văn H, bà Đào Thị T phải chịu 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Ghi nhận ông H, bà T đã nộp và chi phí xong.
3. Về án phí:
3.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn H, bà Đào Thị T phải chịu 1.316.000 đồng (một triệu ba trăm mười sáu nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông H, bà T đã nộp 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012420 ngày 22/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện HT, tỉnh TN. Ông H, bà T còn pH nộp 66.000 đồng (sáu mươi sáu nghìn đồng).
3.2 Án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008109 ngày 22-10- 2019 của chi cục thi hành án huyện HT, tỉnh TN. Ghi nhận đã nộp xong.
4.Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh TN; - TAND thị xã HT; - Chi cục THADS thị xã HT; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ; - Các đương sự; - Lưu tập án; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Vân THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |