vanban.org

Bản án 30/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thị Minh T phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2019/HS-ST
Ngày: 25- 6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Tú

- Thư ký Tòa án: Ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Mai Thị Minh T – Sinh ngày 29 tháng 01 năm 1962 tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Tổ 11, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Đại lý bán vé xổ số; Trình độ văn hóa 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Kh (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh (Đã chết); bị cáo có chồng (Đã chết) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 29/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Công Kh – Sinh năm 1991; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 15, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình;

- Anh Trương Văn H – Sinh năm 1992; (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Th, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;

- Người làm chứng: Ông Đỗ Ngọc H - sinh năm: 1950; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 23/5/2019 tại tổ 11 phường Tr, thành phố T, Mai Thị Minh T thỏa thuận bán số lô cho Nguyễn Công Kh và Trương Văn H với giá 22.500 đồng 01 điểm lô, nếu trúng T phải trả 80.000 đồng 01 điểm lô. Sau đó T ghi bán cho Kh số lô 16, 61 mỗi số 50 điểm và bán cho H số lô 29, 78 mỗi số 50 điểm, số lô 87 – 30 điểm và nhận của Kh số tiền 2.250.000 đồng, của H 2.925.000 đồng. Khi T vừa đưa cho Kh, H mỗi người 01 tờ cáp lô thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang; thu giữ của Mai Thị Minh T 01 tờ thống kê số lô, số đề kích thước (21x16,5) cm, một mặt có ghi các số lô, số đề T đã bán được trong ngày 23/5/2019, 01 bút bi và tổng số tiền bán số lô, số đề trong ngày 23/5/2019 là 7.310.000 đồng gồm số tiền thu được từ bán số lô cho Kh, H là 5.175.000 đồng và bán số lô, số đề cho người chơi qua đường không xác định được tên, tuổi và địa chỉ là 2.135.000 đồng; ngoài ra còn thu giữ số tiền 4.677.000 đồng do T tự nguyện giao nộp, không sử dụng mua bán số lô số, đề. Thu giữ của Nguyễn Công Kh 01 tờ cáp ghi các số lô có kích thước (5,8x4,3) cm và Trương Văn H 01 tờ cáp ghi các số lô có kích thước (7,2x4,6) cm.

Quá trình điều tra, bị cáo Mai Thị Minh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 36/QĐ – VKS ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Mai Thị Minh T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mai Thị Minh T phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i và s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự ;

- Phạt tiền Mai Thị Minh T từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000 đồng ( Hai mươi lăm triệu đồng)

- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.310.000 đồng (Trong đó 5.175.000 đồng là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền 2.135.000 đồng là tiền mà Mai Thị Minh T đã bán số lô, số đề cho khách qua đường.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi màu đen đã thu giữ của Mai Thị Minh T sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 23/5/2019.

- Trả lại cho bị cáo Mai Thị Minh T số tiền 4.677.000 đồng

Trong quá trình điều tra, ông Đỗ Ngọc H trình bày: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 23/5/2019, ông được Công an thành phố T mời đến chứng kiến việc Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bà Mai Thị Minh T về hành vi bán số lô, số đề. Tại đây tôi thấy bà T và hai người thanh niên, một người tên Kh và một người tên H đều khai nhận hành vi mua bán số lô, cụ thể bà T bán cho Kh các số lô 16, 61 mỗi số 50 điểm, tổng là 100 điểm, thành tiền là 2.250.000 đồng. Bà T bán cho H số lô 29, 78 mỗi số là 50 điểm, số lô 87 là 30 điểm thành tiền là 2.925.000 đồng. Các số lô số đề mà bà T bán cho Kh và H tôi thấy được bà T ghi vào 2 mảnh giấy bìa cắt từ vỏ bao thuốc lá và ghi lại các số lô này vào một tờ giấy để theo dõi. Tại đây các anh Công an thu giữ tổng số tiền 11.987.000 đồng, 01 tờ giấy ghi thống kê các số lô, 02 mảnh giấy bìa có ghi các số lô 01, 01 chiếc bút bi màu đen sau đó Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bà Mai Thị Minh T.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Công Kh và anh Trương Văn H, phù hợp với tang vật đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ để kết luận vào ngày 23/5/2019 Mai Thị Minh T đã có hành vi bán các số lô, số đề trái phép với tổng số tiền là 5.175.000 đồng đã phạm vào tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Từ căn cứ trên thấy Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Mai Thị Minh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật

Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra tại nơi tập trung đông dân cư, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn phường Tr nói riêng và trên địa bàn thành phố T nói chung. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Mai Thị Minh T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm mục đích tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, số tiền mà bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Do đó chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích .

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Do áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo Mai Thị Minh T là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, Nguyễn Công Kh và Trương Văn H có hành vi mua số lô của Mai Thị Minh T với số tiền của mỗi người đều dưới 5.000.000 đồng; bản thân Kh và H đều không có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc” hoặc “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” nên hành vi của Kh và H không cấu thành tội phạm. Ngày 10/6/2019, Công an thành phố T đã ra các quyết định xử phạt hành chính đối với Kh và H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Đối với một tờ giấy thống kê lô đề và 02 tờ cáp ghi các số lô mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Những chứng cứ này đã được lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ xử lý đối với bị cáo.

- Đối với số tiền 5.175.000 đồng đã thu giữ đây là số tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp với điểm b, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với số tiền 2.135.000 đồng là tiền mà bị cáo thu được từ việc bán số lô, số đề cho khách qua đường Cơ quan điều tra không xác định được là bị cáo đã bán cho ai do vậy số tiền này cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc bút bi màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền 4.677.000 đồng mà bị cáo Mai Thị Minh T tự nguyện giao nộp. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền hợp pháp của Mai Thị Minh T không liên quan đến việc mua bán số lô, số đề, do vậy cần trả lại cho bị cáo Mai Thị Minh T là phù hợp điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Các điểm i và s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1/ Tuyên bố:

Bị cáo Mai Thị Minh T phạm tội: Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo như sau: Phạt tiền Mai Thị Minh T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.310.000 đồng (Trong đó 5.175.000 đồng là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền 2.135.000 đồng là tiền mà Mai Thị Minh T đã bán số lô, số đề cho khách qua đường.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi màu đen đã thu giữ của Mai Thị Minh T sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 23/5/2019.

- Trả lại cho bị cáo Mai Thị Minh T số tiền 4.677.000 đồng.

Những vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo theo giấy ủy nhiệm chi ngày 13 tháng 6 năm 2019 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 6 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

3/ Về án phí:

Buộc bị cáo Mai Thị Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ