- Tranh chấp gì? án hình sự — "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quang Ch (Tên khác: Đỗ Xuân Ch) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 30/2019/HSST Ngày: 22 - 5 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quang Lực và ông Lý A Hợi;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Năng, là Kiểm sát viên;
Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2019/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 đối với:
Bị cáo: Đỗ Quang Ch;
Tên gọi khác: Đỗ Xuân Ch
Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1962 tại Thái Bình;
Nơi cư trú: Bản C, xã K, huyện Đ, tỉnh B;
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa: 08/10;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Con ông Đỗ Xuân M (đã chết) và bà Vũ Thị Đ;
Vợ: Trần Thị N;
Con: Có 01 con riêng sinh năm 1988;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không;
Bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 01 năm 2019, sau đó bị tạm giam cho đến nay; Có mặt.
Nhân thân: Sử dụng ma túy nhiều năm.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N; địa chỉ: Bản C, xã K, huyện Đ, tỉnh B; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/01/2019, tại khu vực tổ dân phố 07, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ; Công an thành phố Điện Biên Phủ bắt quả tang Đỗ Quang Ch đang điều khiển xe máy mô tô biển kiểm soát 27B1-419.15, có cất giấu trong túi áo khoác đang mặc một gói nhỏ bằng ni lon xanh, bên trong có các cục chất bột màu trắng. Bị cáo khai đó là Heroine; vừa mua của một người đàn ông không quen biết ở bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên với giá 50.000 đồng để sử dụng cho bản thân.
Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo 01 ống Novocain, 01 bơm tiêm, 01 giấy chứng minh nhân dân của bị cáo, xe mô tô biển kiểm soát 27B1-419.15 kèm đăng ký xe. Chiếc xe máy này là tài sản của vợ bị cáo Trần Thị N, bà N không biết bị cáo dùng xe đi mua ma túy.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ Heroine của mình; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai về chiếc xe máy bị tạm giữ như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Kết luận giám định số 247/GĐ-PC09 ngày 28/01/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột gửi giám định có khối lượng 0,13 gam, là ma túy loại Heroine, nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; sau giám định, niêm phong và hoàn lại 0,1 gam mẫu vật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
3. Quyết định truy tố và đề nghị của Viện kiểm sát:
Cáo trạng số 29/CT-VKS-TPĐBP ngày 02/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo Đỗ Quang Ch về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; vật chứng giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh bị truy tố:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/01/2019, tại tổ dân phố 07, phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; bị cáo Đỗ Quang Ch cất giữ trái phép 0,13 gam Heroine tại túi áo đang mặc, với mục đích để sử dụng và đã bị bắt quả tang.
Theo khoản 1 Điều 249 BLHS thì: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển...thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điều luật đã viện dẫn.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người sử dụng ma túy nhiều năm, mặc dù biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo được chủ tịch nước tặng thưởng huân chương Ch công hạng ba vì đã có thành tích xuất sắc trong Ch đấu; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm, khoản tương ứng tại Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 BLHS quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo không có tài sản gì đáng kể, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Xe máy kèm đăng ký xe là của bà Trần Thị N, bà N không biết bị cáo dùng xe đi mua ma túy; giấy chứng minh nhân dân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật, nên HĐXX không đề cập xử lý. Số Heroine còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu để hủy cùng các vật chứng còn lại không có giá trị sử dụng.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về lệ phí và án phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quang Ch (Tên khác: Đỗ Xuân Ch) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/01/2019.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a và c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để hủy một ống Novocain, một bơm kim tiêm và 0,1 gam Heroine, 01 mảnh ni lon xanh đã niêm phong (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 5 năm 2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/5/2019); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Nguời có QLNVLQ; - Viện kiểm sát TP.ĐBP; - Viện kiểm sát tỉnh ĐB; - Cơ quan CSĐT công an TP.ĐBP; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ CATP; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - HS Thi hành án HS; - Chi cục Thi hành án DS TPĐBP; - TAND tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ; -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |