- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND THỊ XÃ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30 /2019/HS-ST Ngày: 27/3/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Chiều.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Tùng
2. Ông Bùi Quý Minh Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Ngô Quốc Hưng - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 27/3/2019, tại hội trường nhà văn hóa xóm Xuân Trù, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2019/HSST ngày 01/2/2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXXST-HS ngày 13/3/2019 đối với bị cáo:
Hà Văn D; tên gọi khác: không; sinh năm 1998; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Đồng Xuân, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H và bà Vũ Thị H; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 21/12/2018 đến nay, tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
* Người làm chứng:
1. Tạ Văn T ; sinh năm: 1990; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở : xóm Trung Lâm, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt
2. Tạ Thị S; sinh năm: 1978: Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Rùa, xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 01 giờ 40 phút, ngày 21/12/2018, tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm Rùa, xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân báo tin tại cơ sở kinh doanh Karaoke Mạnh Tuấn thuộc xóm Rùa, xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên có một số đối tượng có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra xác minh, phát hiện bắt quả tang Hà Văn D đang có hành vi tàng trữ 01 túi nilon màu trắng tại túi quần bên trái phía sau D đang mặc, bên trong có 02 túi nilon nhỏ, trong đó có 01 túi nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp thường gọi ma túy đá), kiểm tra túi nilon còn lại không chứa gì.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (kí hiệu A), đồng thời dẫn giải Hà Văn D về trụ sở của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên để làm việc.
Tiến hành mở niêm phong vật chứng, cân trọng lượng vật chứng (nghi là mà túy dạng đá) thu giữ được của Hà Văn D, kết quả: mở phong bì niêm phong kí hiệu A, có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 02 túi nilon nhỏ, trong đó có 01 túi nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy dạng đá), cân trọng lượng không bì được 0,198 gam, lấy tất cả làm mẫu giám định (niêm phong kí hiệu K).
Tại bản kết luận giám định số 174/KL-PC09, ngày 28/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: “Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong trong mẫu K gửi giám định thu giữ của Hà Văn D là chất ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng (khối lượng) là 0,198 gam”.
Quá trình điều tra Hà Văn D khai nhận: Bản thân trước ngày bị bắt đã một vài lần sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá. Số ma túy đá Methamphetamine nêu trên là do Tạ Văn Tý (sinh năm 1990, trú tại xóm Trung Lâm, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) cho trước thời điểm bị bắt quả tang để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 32/CT-VKSPY, ngày 01/02/2019, Viện kiểm sát nhân nhân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hà Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ.
Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Hà Văn D từ 18-24 tháng tù.
* Hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện sống phụ thuộc gia đình, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng không có mục đích bán, nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
* Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS.
+Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi hoàn lại 0,053 gam mẫu K còn lại sau giám định; 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi vỏ bao mẫu lưu kho.
Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Hà Văn D xác định nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra bắt quả tang là do trước đó bị cáo được Tạ Văn Tý cho, Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Tạ Văn Tý cũng thừa nhận việc trước đó có cho Hà Văn D số ma túy, tuy nhiên Tạ Văn Tý không xác định được số ma túy thu giữ trên người của Hà Văn D có phải là gói ma túy mà Tý đã cho D trước đó hay không vì khi cho Tý không cân trọng lượng ma túy ngoài ra không ai biết việc này, bên cạnh đó thời điểm Hà Văn D bị bắt quả tang trước khi Tạ Văn Tý bị cơ quan điều tra bắt quả tang. Do đó cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác định nguồn gốc số ma túy của Hà Văn D là của Tạ Văn Tý đã cho trước đó nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để nhập vụ án xử lý Tý, D trong cùng một vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Hồi 01 giờ 40 phút ngày 21/12/2018, quán Karaoke Mạnh Tuấn thuộc xóm Rùa, xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên, Hà Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Methamphetamine, có trọng lượng (khối lượng) 0,198 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi, ý thức của Hà Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Bản cáo trạng số 32/CT- VKS-MT ngày 01/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Nội dung điểm c khoản 1 Điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
a)...............
c) ... Methamphetamine …, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam."
Xét tính chất vụ án thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là mặt hàng cấm do nhà nước độc quyền quản lý, song do nghiện ma túy, đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ các con nghiện trên địa bàn. Do đó việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, trái lại do ham chơi, đua đòi mắc nghiện ma tuý đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình đã gây ra nên cho bị cáo Hà Văn D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử khi lượng hình thấy: Trong thời gian gần đây tình trạng phạm tội ma túy, đặc biệt là một bộ phận thanh niên còn rất trẻ do đua đòi nghiện các loại ma túy tổng hợp như Methamphetamine,Ketamine là những chất ma túy kích thích và gây ảo giác cực mạnh, khi sử dụng người nghiện rất dễ bị kích thích, không làm chủ được bản thân, là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tội phạm ngày càng tăng cao, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để đảm bảo kỷ cương pháp luật và ngăn chặn tình trạng phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy về sử dụng không có mục đích mua, bán nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án thu giữ gồm: Số ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hà Văn D 18 ( mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2018.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Hà Văn D 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi “ Hoàn trả 0,053 gam mẫu K còn lại sau giám định vụ Hà Văn D, SN 1998. Phạm tội về ma túy; 01 phong bì niêm phong của Công an thị xã Phổ Yên, ký hiệu L ghi “ Vỏ bao mẫu lưu kho Hà Văn D ngày 21/12/2018”.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên ngày 14/3/2019).
4. Án phí: Căn cứ điều 135, 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hà Văn D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự . Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKS tỉnh TN;
- Sở Tư Pháp TN;
- VKS thị xã Phổ Yên;
- THADS thị xã Phổ Yên;
- Công an thị xã Phổ Yên;
- UBND xã nơi BC cư trú;
- Bị cáo;
Nguyễn Hải Chiều
- Lưu, lưu HS .
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Thái Nguyên - VKS tỉnh TN - Sở Tư Pháp TN - VKS thị xã Phổ Yên - Chi cục THADS thị xã Phổ Yên - Công an thị xã Phổ Yên - Bị cáo -Lưu, lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hải Chiều |